Vị Sài Hồ này là vị thuốc chủ chốt của kinh Thiếu dương. Trong các “Kim phương” (các bài thuốc kinh điển của Trương Trọng Cảnh), Sài Hồ được dùng rất nhiều, tiêu biểu như Tiểu Sài Hồ thang hay Đại Sài Hồ thang. Trương Trọng Cảnh coi đây là vị thuốc thuộc về Bán biểu bán lý (nửa ngoài nửa trong).
Lấy ví dụ: Vị (dạ dày) thuộc Lý, da lông thuộc Biểu. Mối quan hệ tương tác giữa Biểu và Lý, phần nằm ở giữa chính là Bán biểu bán lý. Trong Kim phương, chúng ta thường dùng Sài Hồ để Sơ Can.
Quan niệm về Sơ Can
Chúng ta coi Can thuộc Mộc. Đặc tính của Mộc là phải được sơ thông. Cây cối không được để uất ức quá mức; nếu cành lá mọc quá rậm rạp, quả sẽ dày đặc nhưng không ăn được. Lúc đó phải tỉa bớt cành lá để ánh nắng và không khí lọt vào, cây mới phát triển tốt. Can Mộc cũng vậy, phải thường xuyên được sơ thông, đó là lý do Sài Hồ là vị thuốc chính để trị bệnh về Can.
Vị thuốc Sài hồ
Tên khác: Địa huân, Sơn thái, Cô thảo, Sài thảo.
Tính vị: Vị khổ (đắng), tính vi hàn (hơi lạnh). Vị đắng có thể tả, có thể táo, có thể kiên (làm bền chắc).
Quy kinh: Can, Đởm.
Công năng: Hòa giải biểu lý, sơ can thăng dương.
Chủ trị: Cảm mạo phát nhiệt, hàn nhiệt vãng lai, ngược tật (sốt rét), can uất khí trệ, ngực sườn chướng thống, thoát giang, sa tử cung, kinh nguyệt không đều.
Công dụng của Sài hồ
Thanh nhiệt tả hỏa: Sài hồ thuộc nhóm dược liệu tính hàn, có công năng thanh nhiệt tả hỏa. Vào mùa hè oi bức, mọi người có thể sử dụng Sài hồ một cách phù hợp để giúp cơ thể trải qua mùa hè dễ chịu hơn.
Kháng viêm: Sài hồ có tác dụng kháng viêm rất tốt, chủ yếu do chứa thành phần saponin và tinh dầu. Các thành phần này trong thí nghiệm động vật cho kết quả tốt đối với việc chống sưng phù và kháng viêm.
Giải nhiệt, thoái nhiệt: Sài hồ giúp hạ sốt, đặc biệt đối với các triệu chứng phát sốt do thương hàn, trực khuẩn E. coli, nấm men gây ra. Ngoài ra, trong thí nghiệm, Sài hồ còn có thể làm giảm thân nhiệt ở động vật bình thường.
Trấn tĩnh: Sài hồ có tác dụng an thần nhất định, đặc biệt là giảm nhẹ các chứng mất ngủ, đa mộng do nội nhiệt phiền táo gây ra. Nói một cách đơn giản, nếu bị mất ngủ do nóng trong người, sử dụng Sài hồ phù hợp sẽ giúp thoát khỏi nỗi lo mất ngủ.
Hạ huyết áp: Sài hồ có tác dụng hạ áp khá tốt nhờ thành phần flavonoid, giúp tăng cường độ thẩm thấu của mao mạch, từ đó mang lại hiệu quả hạ huyết áp tạm thời.
Liều lượng sử dụng
Về liều lượng, bạn không cần phải máy móc như Tây y (vốn phải tính toán cực kỳ chính xác vì thuốc của họ có độc tính cao như thuốc gây mê). Sài Hồ đi vào hệ thống Tam tiêu và hạch bạch huyết.
- Với người lớn thể trạng trung bình: Thường dùng 3 tiền (khoảng 12g).
- Với trẻ nhỏ: Dùng 1 tiền (khoảng 4g).
- Thanh thiếu niên: Dùng 2 tiền (khoảng 8g).
Liều lượng linh hoạt tùy theo thể trọng và quan sát trực tiếp người bệnh.
Chỉ định lâm sàng
Triệu chứng đặc trưng nhất để dùng Sài Hồ là Vãng lai hàn nhiệt (lúc sốt lúc rét). Khi bệnh nhân kẹt giữa Bán biểu bán lý, họ sẽ có hiện tượng lúc nóng lúc lạnh luân phiên.
Tất cả các bệnh về Gan (Bệnh gan B, C, xơ gan, ung thư gan), các vấn đề về Mật, Tỳ tạng, Tụy tạng đều cần cân nhắc sử dụng Sài Hồ. Nó cũng là vị thuốc không thể thiếu trong điều trị sỏi mật.
Công năng chính
Phát biểu thanh nhiệt, tán nhiệt tà ở Tam tiêu và Can Đởm.
- Trị các chứng: Miệng đắng, tai điếc, chóng mặt, đau đầu (đặc biệt là đau nửa đầu thuộc kinh Thiếu dương).
- Trị chứng Cốt chưng lao nhiệt: Đây là tình trạng người bệnh gầy yếu, ăn bao nhiêu cũng không béo, thể lực kém do lao lực hoặc di chứng sau hóa trị ung thư. Trong xương vốn có tủy và “Dương” tàng giữ bên trong. Khi Dương khí này thoát ra ngoài, người bệnh sẽ cảm nhận thấy “nóng từ trong xương nóng ra”. Đây gọi là Cốt chưng. Sài Hồ là bắt buộc cho chứng Cốt chưng kèm đau nhức cơ khớp, mạch đại. Đặc biệt, nếu nhiệt ở xương quá nặng, dùng Ngân Sài Hồ sẽ hiệu quả hơn Sài Hồ thường.
- Trị Hung hiếp khổ mãn: Cảm giác đầy tức, khó chịu vùng ngực sườn (khu vực trung tiêu, nơi có gan mật).
Phân biệt triệu chứng để dùng thuốc
Cần phân biệt rõ:
- Nếu chỉ có “vãng lai hàn nhiệt”, có thể dùng Quế Chi Ma Hoàng Các Bán Thang.
- Nhưng nếu có kèm buồn nôn và đầy tức hông sườn, thì nhất định phải dùng Sài Hồ.
Nguyên tắc trị liệu (Hư và Thực)
Đông y không trị bệnh một cách đơn độc.
- Với chứng Hư nhiệt: Không có vị thuốc nào duy nhất trị được hư nhiệt. Chúng ta phải dùng thuốc Bổ hư kết hợp với thuốc Tả nhiệt. Khi hư được bù đắp và nhiệt được bài trừ thì bệnh mới khỏi.
- Với chứng Thực nhiệt: Ví dụ dùng Hoàng Cầm, Hoàng Liên để thanh nhiệt, phối hợp với Đại Hoàng để tẩy sạch thực tích (phần “thực”). Sự kết hợp này mới giải quyết được tận gốc “Thực nhiệt”.
Ứng dụng phối ngũ trong bệnh Gan mật
Khi có đau hông sườn (đa phần do Can khí vượng), ta dùng bài Tiểu Sài Hồ Thang làm gốc, sau đó gia giảm:
- Đau sườn trái (thuộc về Huyết): Gia thêm Thanh bì, Xuyên khung, Bạch thược để hoạt huyết hành khí.
- Đau sườn phải (thuộc về Thực/Mật): Phía bên phải là vị trí của túi mật, liên quan đến tiêu hóa. Thường do thực tích hoặc đờm ẩm. Ta dùng Sài Hồ để sơ can giải uất, phối hợp thuốc tiêu thực hóa đờm.
Sài Hồ là vị thuốc cực kỳ quan trọng và được sử dụng với tần suất rất cao trong điều trị các bệnh lý về Gan và Đởm.
Kiêng kỵ khi sử dụng
Người âm hư hỏa vượng, phụ nữ đang trong kỳ kinh nguyệt cấm dùng. Sài hồ dễ gây tổn thương nhất định đến chức năng thận, khuyến cáo bệnh nhân thận trọng khi dùng. Cần sử dụng dưới sự hướng dẫn của bác sĩ, tuyệt đối không tự ý dùng thuốc để tránh hậu quả không đáng có.
Sài hồ vị cam khổ (ngọt đắng), dùng trị biểu chứng phát nhiệt, đầu váng mắt hoa, bảo vệ gan. Bản thân Sài hồ không có tác hại rõ rệt, nhưng “thuốc có ba phần độc”, nếu dùng quá liều hoặc tự ý dùng không đúng cách sẽ gây hại, nên cần tuân thủ chỉ định của bác sĩ.
Các món ăn thực dưỡng từ Sài hồ
- Cháo Sài hồ sơ can: Chuẩn bị Hương phụ, Mạch nha, Sài hồ, Cam thảo, Bạch thược, Xuyên khung, Chỉ xác cùng lượng gạo tẻ và đường trắng vừa đủ. Sắc các vị thuốc lấy nước bỏ bã, sau đó cho gạo tẻ đã vo sạch vào nấu cùng nước thuốc thành cháo, thêm đường. Ăn 2 lần mỗi ngày. Công dụng: Cải thiện chứng đau hông sườn và sốt nhẹ do can uất khí trệ.
- Sài hồ liên ngẫu phiến (Ngó sen Sài hồ): Chuẩn bị ngó sen, Sài hồ, giá đỗ xanh, Sơn tra, cà chua, muối, đường, giấm… Sắc Sài hồ và Sơn tra lấy nước bỏ bã. Trộn đều muối, đường, giấm rồi cho ngó sen thái lát vào ngâm 10 phút. Xào chín ngó sen bằng lửa lớn, đổ nước thuốc vào rồi bày ra đĩa, trang trí bằng giá đỗ và cà chua. Công dụng: Sơ can thanh nhiệt.
- Cháo Sài hồ thanh diệp: Chuẩn bị Đại thanh diệp, Sài hồ, gạo tẻ và đường. Sắc Đại thanh diệp và Sài hồ lấy nước, sau đó cho gạo tẻ vào nấu cháo, thêm đường. Mỗi ngày ăn 1 lần, liên tục trong 1 tuần. Dùng cho người bị zona thần kinh (giời leo).
- Cháo Sài hồ (đơn giản): Chuẩn bị Sài hồ, gạo và đường. Sài hồ rửa sạch sắc lấy nước, cho gạo vào nấu chín rồi thêm chút đường nấu thêm một lát là dùng được. Ngày ăn 1-2 lần, liên tục 3-5 ngày. Công dụng: Sơ can giải uất.



Đánh giá
Chưa có đánh giá nào.