Phân biệt các loại Sài hồ

https://zhuanlan.zhihu.com/p/82182901

Phân loại Sài hồ

Sài Hồ (tên khoa học: Bupleurum) bắt nguồn từ hai từ tiếng Hy Lạp: Bous nghĩa là “con bò đực” và Pleuron nghĩa là “xương sườn”. Tên gọi này xuất phát từ việc lá của cây Sài Hồ trông rất giống xương sườn của bò.

Vị thuốc này được ghi chép lần đầu trong Thần Nông Bản Thảo Kinh, xếp vào hàng “Thượng phẩm”. Thuở sơ khai có tên là “Tỷ Hồ” (茈胡), đến thời Đồ Kinh Bản Thảo mới đổi tên thành Sài Hồ. Lý Thời Trân (tác giả Bản Thảo Cương Mục) từng nói: “Tỷ Hồ mọc trong núi, lúc non có thể làm rau ăn, lúc già thì hái về làm củi (Sài), nên mầm cây có tên là Vân hào, Sơn thái, hay Thảo mộc, còn rễ gọi là Sài Hồ.” Chữ “Tỷ” (茈) trong Tỷ Hồ có âm đọc gần giống “Sài” (柴). Vì rễ cỏ có màu tím, người sau dùng bộ “Mộc” thay cho bộ “Mịch”, gọi thống nhất là Sài Hồ. Dược liệu thường được phân thành “Bắc Sài Hồ” và “Nam Sài Hồ”.

Ngoài ra còn có một vị thuốc khác gọi là Ngân Sài hồ. Ba vị thuốc này tên gọi gần giống nhau nhưng công dụng lại khác biệt rất lớn.

Chủng loại và bộ phận dùng làm thuốc

Bắc Sài hồ

Bắc Sài hồ là rễ của cây Sài hồ – một loài thực vật thân thảo sống nhiều năm thuộc họ Hoa tán (Umbelliferae). Sau khi loại bỏ tạp chất, rửa sạch và phơi khô thì dùng làm thuốc. Sản phẩm chủ yếu được trồng và thu hái tại các vùng phía Bắc như Liêu Ninh, Cam Túc, Hà Bắc, Hà Nam…

Bắc Sài hồ
Bắc Sài hồ

Bề ngoài có màu nâu nhạt hoặc nâu đất, chất cứng, khó bẻ gãy, ít cong, nên còn được gọi là “Sài hồ cứng” (硬柴胡 – Ngạnh Sài hồ). Phần đầu rễ phình to, phân nhiều nhánh và có nhiều rễ con; phần gỗ bên trong có màu trắng hoặc trắng ngà. Khi xoắn nhẹ có thể thấy phần gỗ bị nứt vỡ hoặc tách thành dạng dải, phiến; các rễ nhánh nhỏ, mảnh thì dễ bẻ gãy. Mùi hơi thơm nhẹ, vị nhạt.

Sách 《本草汇言 – Bản thảo hội ngôn》khái quát rằng: “Bắc Sài hồ xuất xứ từ các lộ thuộc Sơn Đông, màu đen sẫm mà chắc mịn, hình ngắn như cây chổi.”

Do chỉ dùng phần rễ làm thuốc, lại thường được thu hái vào mùa thu, nên còn có tên gọi khác là “Thu Hồ Sài” (秋胡柴).

Bắc Sài hồ có công năng hòa giải, lui sốt và sơ giải biểu tà rất rõ rệt; dùng loại còn sống (chưa sao chế) là tốt nhất, liều lượng nên dùng hơi cao, phần nhiều được dùng trong các chứng ngoại cảm nhiệt bệnh.

Đúng như sách《本草求真 – Bản thảo cầu chân》đã nói: “Muốn giải tán thì nên dùng Bắc Sài hồ.”

Ông Chu Đông Sinh (朱东生) cũng từng nói: “Bắc Sài hồ chuyên giải nhiệt, đặc biệt là tà nhiệt trong thương hàn.”

Nam Sài hồ

Nam Sài hồ là rễ của cây Sài hồ lá hẹp (狭叶柴胡). Sau khi loại bỏ tạp chất, rửa sạch, thái lát (hoặc cắt đoạn) rồi phơi khô thì dùng làm thuốc. Chủ yếu sản xuất tại các tỉnh miền Nam Trung Quốc như Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Giang Tô… Trong đó, loại sản xuất tại Tứ Xuyên được gọi là Xuyên Sài hồ.

Bề ngoài có màu vàng nâu hoặc nâu đỏ, chất nhẹ và mềm hơn, tính giòn, dễ bẻ gãy; rễ đơn thưa rễ con, ít hoặc không có xơ gỗ; mùi nhẹ, có mùi tanh dầu, vị nhạt. Còn được gọi là “Tế Sài hồ” hoặc “Nhuyễn Sài hồ” (Sài hồ mềm).

Nam Sài hồ
Nam Sài hồ

Vì Nam Sài hồ thường được thu hái cả rễ lẫn mầm vào khoảng trước và sau tiết Thanh Minh, nên còn có tên là “Xuân Sài hồ.” Ở một số địa phương chỉ dùng phần rễ làm thuốc; rễ có màu nâu đỏ nên cũng được gọi là “Hồng Sài hồ.”

Nam Sài hồ thiên về công năng sơ can giải uất, thăng dương tán tà; thường dùng trong các chứng nội thương tạp bệnh do uất mà hóa nhiệt.

Muốn sơ can giải uất thì nên sao với giấm; muốn thăng dương có thể dùng sống hoặc sao với rượu; liều lượng nên dùng hơi nhẹ.

Sách 《本草汇言 – Bản thảo hội ngôn》viết: “Người tỳ hư, lao quyện thì dùng Bổ trung ích khí thang; phụ nữ can uất lao nhược thì dùng Tiêu dao tán, Thanh hao tiên hoàn, thêm ít Sài hồ.” Chữ “Sài hồ” ở đây chính là chỉ Nam Sài hồ.

Các danh y như Diệp Thiên Sĩ (叶天士) và Trần Ấu Thanh (陈幼清) từng nói:“Sài hồ có thể cướp âm của can.” Chữ “Sài hồ” trong câu này cũng là chỉ Nam Sài hồ.

Vì tính của vị thuốc này có xu hướng thăng tán, nên trong lâm sàng những trường hợp can dương thượng cang, can phong nội động, âm hư hỏa vượng hoặc khí cơ nghịch lên trên thì kiêng dùng hoặc thận trọng khi dùng.

Ngân Sài hồ

Ngân Sài hồ là rễ phơi khô của cây Ngân Sài hồ – một loài thuộc chi Phồn lũ (繁缕属), họ Cẩm chướng (石竹科). Vị thuốc có mùi nhẹ, vị ngọt; chủ yếu sản xuất tại Thiểm Tây, Nội Mông và Ninh Hạ. Năm 1959, Cục Quản lý Dược phẩm Trung Quốc đã chính thức ghi nhận vị thuốc này trong 《中药材手册 – Sổ tay Dược liệu Trung dược》.

Ngân sài hồ - Bắc Sài hồ

Ngân Sài hồ có tính vị ngọt, hơi hàn; có công năng thanh hư nhiệt, trừ cam nhiệt… Chủ yếu dùng trong các chứng âm hư phát nhiệt, cam tích phát nhiệt v.v.

Đối với các chứng như dương hư phát nhiệt, cốt chưng lao nhiệt, lương huyết, công hiệu của Ngân Sài hồ vượt trội hơn so với Bắc Sài hồ và Nam Sài hồ.

Danh y đời Thanh, Uông Ngang, trong sách《本草备要 – Bản thảo bị yếu》có viết:
“Nhiệt có khi ở bì phu, có khi ở tạng phủ, có khi ở cốt tủy. Nhiệt ở cốt tủy thì không thể không dùng Sài hồ; nếu dùng được Ngân Sài hồ thì chỉ cần một thang, loại ở phương Nam thì lập tức giảm, nên chỉ ba thang là có hiệu nghiệm.”

Tổng kết cách dùng của các loại Sài hồ 

  • Hầu hết các khu vực trên cả nước sử dụng chủ yếu là Bắc sài hồ. Ví dụ, các khu vực như Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến, Thiểm Tây, Cam Túc, và Hoa Bắc (bao gồm Bắc Kinh, Thiên Tân) đều sử dụng Bắc sài hồ khi đơn thuốc chỉ ghi chung chung là “Sài hồ”.
  • Các phương pháp bào chế (như trộn với máy ba ba, tẩm giấm sao, sao với nước) đều sử dụng Bắc sài hồ. Các loại thuốc hoàn tán (như Tiêu Dao Hoàn, Bổ Trung Ích Khí Hoàn, Nhân Sâm Ba Giáp Tiễn Hoàn) cũng sử dụng Bắc sài hồ.
  • Khu vực Giang Tô, Chiết Giang, Thượng Hải thường sử dụng Nam sài hồ. Nếu đơn thuốc chỉ ghi “Sài hồ”, họ sẽ cung cấp Nhuyễn sài hồ. Các phương pháp bào chế và thuốc hoàn tán cũng sử dụng Nhuyễn sài hồ.
  • Bắc Sài hồ dùng sống để giải biểu, lui sốt, sơ can giải uất; sao với giấm để điều kinh, chỉ thống; sao với huyết ba ba (miết huyết) để lui hư nhiệt; sao với rượu để thăng đề, chỉ tả; sao với mật ong để nhuận phế, chỉ khái.
  • Nam Sài hồ dùng sống để trị can uất lao nhiệt. “Lao nhiệt” ở đây không phải là nhiệt do ngoại cảm, cũng không phải nhiệt ở bán biểu bán lý, mà là hư nhiệt; chứng can nhiệt hư nhiệt thì dùng Nam Sài hồ.
  • Ngân Sài hồ chuyên lui âm hư triều nhiệt và cam nhiệt ở trẻ nhỏ.

Quy định sử dụng trong đơn thuốc

Theo “Quy phạm bào chế thuốc Đông y Thượng Hải”:

  • Nếu đơn thuốc ghi Sài hồXuân sài hồNhuyễn sài hồTế sài hồ, sẽ cung cấp Nhuyễn sài hồ.
  • Nếu đơn thuốc ghi Xuyên sài hồTrúc diệp sài hồ, sẽ cung cấp Xuyên sài hồ.
  • Nếu đơn thuốc ghi Hồng sài hồSài hồ đầu, sẽ cung cấp Hồng sài hồ.
  • Nếu đơn thuốc ghi Bắc sài hồThu sài hồNgạnh sài hồ, sẽ cung cấp Bắc sài hồ.

Lịch sử sử dụng Sài hồ

Theo các tài liệu cổ, phần trên mặt đất của Sài hồ được gọi là Sài (柴), phần dưới đất được gọi là Hồ (胡). Ngày xưa, người ta thường dùng rễ làm thuốc, và Bắc sài hồ được coi là loại chính thống.

  • Lý Thời Trân từng nói: “Sài hồ mọc trên núi, non thì dùng làm thuốc, già thì dùng làm củi, nên cây non có tên là Vân hồ, Sơn thái, Như thảo, còn rễ gọi là Sài hồ.”
  • Ông cũng nói: “Sài hồ ở phương Bắc mềm như Tiền hồ, người nay gọi là Bắc sài hồ, dùng làm thuốc rất tốt. Sài hồ ở phương Nam không giống Tiền hồ, giống như rễ cây ngải, cứng và không dùng được.”

Sài hồ và “Sài hồ kiếp can âm”

  • Nam sài hồ và Bắc sài hồ có những điểm chung và đặc điểm riêng do sự khác biệt về chủng loại và bộ phận dùng làm thuốc.
  • “Sài hồ kiếp can âm” (Sài hồ làm tổn thương âm gan) lần đầu được đề cập trong “Trị Thử Toàn Thư” của Trương Tư Nông, sau đó được Diệp Thiên Sĩ và Vương Mạnh Anh nhắc đến.
  • Các danh y như Lý Đông Viên, Trương Cảnh Nhạc, Mậu Trọng Thuần, Trương Thạch Ngoan, Dương Thời Thái đều cho rằng “Sài hồ có tính thăng tán, người âm hư hỏa vượng nên tránh dùng.” Tuy nhiên, các tác giả này không nói rõ họ sử dụng loại Sài hồ nào. Dựa trên tài liệu hiện có, tác giả cho rằng họ có thể đã sử dụng Nam sài hồ.

Đặc điểm chung và riêng của Nam sài hồ và Bắc sài hồ

Điểm chung:

  • Sơ tà giải nhiệt: Điều trị chứng sốt rét, sốt cách nhật.
  • Sơ can giải uất: Điều trị chứng khí trệ ở gan, đau tức ngực, phụ nữ kinh nguyệt không đều.
  • Trừ đàm điều kinh: Điều trị kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh.

Đặc điểm riêng:

  • Bắc sài hồ: Có tác dụng đẩy lùi cái cũ, sinh ra cái mới, giải quyết các chứng khí trệ trong ngực, bụng và dạ dày.
  • Nam sài hồ: Có tác dụng phát hãn giải biểu, thăng thanh dương, phù hợp với chứng ngoại cảm và thanh dương hạ hãn.

Sự khác biệt giữa Sài hồ và Ngân sài hồ

  • Ngân sài hồ: Có vị ngọt, tính hàn, chủ trị chứng lao nhiệt, sốt rét, và nhiệt từ tủy xương.
  • Ngân sài hồ có tác dụng thanh nhiệt mà không làm tổn thương âm, phù hợp với các chứng hư nhiệt.

Tương truyền rằng, vào thời cổ đại, Sài hồ và Ngân Sài hồ từng bị dùng lẫn lộn với nhau. Có một lần, một thương nhân tên là Lưu Hàn đi ngang qua vùng Ngân Châu, thấy trên phố có người bán một loại dược liệu trông giống như Sài hồ. Trong khi đó, quê nhà ông đang cần vị “Sài hồ” này, vì vậy Lưu Hàn đã mua rất nhiều dược liệu ở Ngân Châu mang về quê bán như Sài hồ.

Chỉ ít ngày sau, Lưu Hàn bị người ta tố cáo lên quan huyện vì bán thuốc giả. Hóa ra, người tố cáo vốn mắc bệnh lâu năm, phải uống một thang thuốc; mỗi lần uống đều thấy hiệu nghiệm, trong đó có vị Sài hồ. Lần này mua “Sài hồ” của Lưu Hàn thì lại không thấy hiệu quả, nên đã kiện ông.

Lưu Hàn cảm thấy oan uổng. Quan huyện đang phân vân chưa rõ thực hư, thì có một lão dược sư vào trình bày rõ nguyên do: loại Sài hồ mà Lưu Hàn mua từ Ngân Châu có rễ màu trắng, loại này giỏi thanh hư nhiệt, trừ cam nhiệt; còn Sài hồ ở địa phương các ông lại thiên về giải biểu, lui sốt.

Vì vị thuốc này trông giống Sài hồ, rễ lại có màu trắng, hơn nữa lại sản xuất ở Ngân Châu, nên người ta gọi nó là “Ngân Sài hồ.”

  • Nam sài hồ: Thiên về sơ can hư nhiệt.
  • Bắc sài hồ: Thiên về điều khí, giải biểu và tả can.
  • Ngân sài hồ: Thiên về tư âm, thanh nhiệt và nhu can.

Dù cùng mang danh Sài hồ, nhưng Bắc Sài hồ, Nam Sài hồ và Ngân Sài hồ lại sở hữu những đặc tính dược lý và phạm vi ứng dụng tách biệt. Việc nhận diện đúng hình thái và hiểu rõ công năng của từng loại không chỉ giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị từ giải biểu, sơ can cho đến thanh hư nhiệt mà còn là yếu tố tiên quyết để đảm bảo tính an toàn, tránh các tác dụng phụ không mong muốn như “kiếp can âm” hay tổn thương thận do dùng sai chỉ định. Trong thực hành lâm sàng, sự tinh tế của người thầy thuốc chính là nằm ở việc lựa chọn đúng loại Sài hồ cho từng thể bệnh chuyên biệt.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *