Lưu trữ y học cổ truyền - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/tag/y-hoc-co-truyen/ Mon, 30 Sep 2024 14:40:00 +0000 vi hourly 1 https://vanquocduocvuong.vn/wp-content/uploads/2022/07/cropped-logo-vanquocduocvuong.png Lưu trữ y học cổ truyền - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/tag/y-hoc-co-truyen/ 32 32 Đông y và Covid-19 https://vanquocduocvuong.vn/dong-y-va-covid-19/ https://vanquocduocvuong.vn/dong-y-va-covid-19/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:48:05 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/dong-y-va-covid-19/ Bài viết của PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bay – Chuyên khoa Y học cổ truyền 1. Cơ chế gây bệnh tật nói chung, bệnh nhiễm trùng nói riêng theo quan niệm của y học cổ truyền là như thế nào? Đông y có cái nhìn như thế nào về dịch bệnh COVID-19? Bệnh theo YHCT Y [...]

Bài viết Đông y và Covid-19 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Bài viết của PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bay – Chuyên khoa Y học cổ truyền

1. Cơ chế gây bệnh tật nói chung, bệnh nhiễm trùng nói riêng theo quan niệm của y học cổ truyền là như thế nào? Đông y có cái nhìn như thế nào về dịch bệnh COVID-19?

Bệnh theo YHCT

Y học cổ truyền cho rằng tình trạng khỏe mạnh là sự cân bằng và điều hòa trong mối quan hệ không chỉ của các cơ quan tạng phủ và các hệ thống khác nhau trong cơ thể mà còn giữa cơ thể và môi trường bên ngoài. Khi mối quan hệ nhiều mặt này bị phá vỡ, bệnh tật sinh ra.

Bệnh là sự mất cân bằng Âm – Dương, Khí – Huyết, chức năng Tạng – Phủ. Khi nguyên nhân gây bệnh tác động vào cơ thể làm trạng thái sinh lý của một bộ phận hay hệ thống nào đó bị rối loạn, trở ngại hoặc tổn thương về hình thái, chức năng hoặc trao đổi chất và sự biến đổi này tạm thời không thể tự phục hồi được.

Y học cổ truyền còn cho rằng bệnh là quá trình bệnh lý tổng hợp của tại chỗ và toàn thân, không thể tồn tại bệnh lý tại chỗ đơn thuần và cũng không thể tồn tại bệnh toàn thân mà không có biểu hiện ở một vị trí cụ thể nào đó. Điều này thể hiện quan điểm của y học cổ truyền xem xét bệnh lý chú trọng đến tính chỉnh thể và hệ thống.

Bệnh nhiễm YHCT

Khi chính khí của cơ thể hư nhược hoặc độc lực gây bệnh của tà khí quá mạnh vượt quá khả năng phòng ngự của cơ thể làm cho chính khí hư tương đối so với tà khí thì tà khí xâm nhập vào cơ thể làm rối loạn công năng sinh lý bình thường của cơ thể mà phát sinh bệnh tật. 

Tà khí từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể gây bệnh chia thành hai nhóm, bao gồm: lục dâm (phong hàn thử thấp táo hỏa) và lệ khí. Lệ khí có tính truyền nhiễm mạnh, còn được gọi là dịch độc, dịch khí, dị khí, độc khí. Bệnh do lệ khí gây ra gọi là dịch bệnh, ôn bệnh, ôn dịch bệnh. 

COVID-19

Những diễn tiến và cách biểu hiện bệnh của Covid 19 hiện nay, cũng được Y học cổ truyền nêu gần tương tự như vậy vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, trong bệnh ngoại cảm (cảm nhiễm các nguyên nhân gây bệnh từ môi trường sống bên ngoài cơ thể). Bệnh ngoại cảm có 2 loại là Thương hàn và Ôn bệnh. 

Thương hàn là bệnh cảnh khởi phát có tính hàn, giai đoạn đầu lạnh nhiều, diễn tiến có quy luật theo 6 giai đoạn (Lục kinh), khi vào sâu mới dần hoá hoả, mới có sốt và làm tổn hao tân dịch, nguyên nhân gây bệnh do Lục dâm (6 thứ khí tự nhiên, nhưng diễn biến trái thường gây bệnh)

Ôn bệnh là tên gọi chung cho các bệnh ngoại cảm có đặc điểm

– Khởi bệnh bằng Sốt cao, bệnh cảnh thiên về nhiệt chứng, và gây tổn hao tân dịch
– Diễn biến có quy luật nhất định theo 4 giai đoạn (Vệ, Khí, Dinh, Huyết)
– Bệnh thường diễn tiến nhanh, cấp tính có thể khỏi tự nhiên, nhưng cũng có thể diễn tiến nặng nề, nhiều biến chứng trầm trọng.
– Bệnh có thể phát triễn thành dịch gọi là “Ôn dịch”
– Nguyên nhân gây bệnh là tà khí lục dâm (như Thương hàn) nhưng thường xảy ra trong thiên tai – chiến tranh địch hoạ, có người chết, có xác động vật chết thối rửa tạo ra tạp vật ô uế xử lý không tốt gọi là Lệ khí

Cơ chế gây bệnh cho cả 2 loại Thương hàn và Ôn bệnh là do CHÍNH KHÍ suy kém, TÀ KHÍ nhân đó mà xâm nhập gây bệnh.Qua mô tả trên có thể thấy mối tương quan Thương hàn là có thể nhiễm các virus thông thường gây bệnh như Sởi, Thuỷ đậu, Sốt xuất huyết, Cúm mùa, … còn virus biến chủng như COVID-19 có thể là Ôn bệnh.

Diễn biến của Ôn bệnh

– Khởi phát ở Vệ phận, biểu hiện phát sốt, sợ lạnh, ho, khát, đau họng
– Vào đến Khí phận, sốt rất cao, khát, ho nhiều, mồ hôi, mình mẩy đau nhức, ngực sườn bứt rức, hồi hộp không yên…
– Vào đến Khí phận, sốt tăng về đêm, khó thở, khó ngủ, tâm phiền bức rức, năng thì mê man nói sảng
– Vào đến Huyết phận: Sốt cao, mặt đỏ, lòng tay chân nóng hực, vật vã phát cuồng, nhiệt lộng bức huyết gây chảy máu ở miệng- nướu răng – mũi – tiêu tiểu, co giật, mê loạn nói nhảm ….

Phương pháp điều trị tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh lý sẽ sử dụng các phương pháp châm cứu, thuốc dược liệu phù hợp như ở Vệ phận thì dùng pháp Tân lương giải biểu, ở khí phận thì dùng pháp Thanh khí tiết nhiệt, ở Dinh phận thì dùng pháp Thanh dinh thấu nhiệt, ở Huyết phận thì dùng pháp Lương huyết tư âm tức phong… Các bài thuốc thường được sử dụng như Ma hạnh Thạch Cam thang, Hoàng liên giải độc thang, Tiểu Sài hồ thang…

Trong đợt Covid hiện nay, Cát Hựu Văn, Viện Y Học Cổ Truyền Trung Quốc, phân tích toàn bộ các đặc điểm của dịch dựa trên những y văn có liên quan từ trước. Trong đó có các bài thuốc đến từ tác phẩm kinh điển “Thương Hàn Tạp Bệnh Luận” của Trương Trọng Cảnh thời Đông Hán (Công Nguyên 150-219). Cuối cùng quyết định đem 4 bài thuốc “Ma Hạnh Thạch Cam Thang”, “Xạ Can Ma Hoàng Thang”, “Tiểu Sài Hồ Thang” và “Ngũ Linh Tán” phối hợp lại với nhau thành một bài thuốc Thanh phế bại độc thang.

Nhóm nghiên cứu Khoa Học Công Nghệ của Cục Quản Lý Y Học Cổ Truyền Quốc Gia công bố kết quả lâm sàng của bài thuốc Thanh Phế Bài Độc Thang. Đồng thời, đơn thuốc và cách sử dụng được công bố cho toàn xã hội. Văn Phòng Ủy Ban Vệ Sinh Sức Khỏe Quốc Gia và Cục Quản Lý Y Học Cổ Truyền Quốc Gia kết hợp phát công văn, đề xuất kết hợp sử dụng bài thuốc Thanh Phế Bài Độc Thang trong điều trị Covid-19.

2. Theo y học cổ truyền, sức đề kháng của mỗi người có thể suy yếu do những nguyên nhân nào?

Sức đề kháng có thể suy yếu do: thể chất suy yếu do bẩm sinh, do còn quá nhỏ tuổi hoặc quá lớn tuổi; tinh thần không thoải mái, cảm xúc tiêu cực kéo dài làm rối loạn công năng sinh lí của cơ thể; dinh dưỡng và rèn luyện không đúng hoặc không đủ, không đúng.

Thể chất: Con người sinh ra, bẩm tố mỗi người mỗi khác nên tính cách cũng có sự khác biệt (mạnh mẽ hoặc nhu nhược), thể chất cũng khác nhau (cường trang hoặc gầy yếu, cao hay thấp), nếu liên hệ với công năng sinh lí thì cũng phân thành thiên âm hay thiên dương. Đặc trưng thể chất của cá thể quyết định khuynh hướng cơ thể sẽ dễ mắc một loại bệnh nào đó, ví dụ như “sấu nhân đa nhiệt, phì nhân đa đàm”. Tuổi nhiều hay ít, thể chất không giống nhau thì cũng có sự khác nhau về phát bệnh, như trẻ em dương khí dễ động nên khi cảm tà dễ hóa nhiệt động phong; người già khí huyết hư suy, nguyên âm nguyên dương suy, phát bệnh thường hư hàn chứng.

Tinh thần: Yếu tố tinh thần ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động công năng của tạng phủ, âm dương, khí huyết, đồng thời nó có thể là nhân tố nội thương làm rối loạn công năng sinh lí mà phát thành bệnh. Ví dụ, trong chứng Vị quản thống thì tình chí uất ức dẫn đến Can khí uất kết mất công năng sơ tiết cho hoạt động của phủ Vị dẫn đến Can Vị bất hòa biểu hiện ợ hơi, ợ chua, đau vùng thượng vị (tình chí là yếu tố gây bệnh); trong chứng trúng phong, trường hợp cơ thể vốn dĩ âm hư, kết hợp với rối loạn tình chí gây can dương cang thịnh, huyết theo khí nghịch mà nhiễu loạn thần minh (tình chí là yếu tố thuận lợi khởi phát trúng phong).

Dinh dưỡng và rèn luyện: Dinh dưỡng và rèn luyện là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự thịnh vượng của chính khí, nâng cao khả năng kháng bệnh. Tiên thiên hữu hạn, phải liên tục bổ sung bằng hậu thiên, nguồn gốc của hậu thiên từ ăn uống, nếu ăn uống không đủ, hoặc ăn uống thiên lệch làm khí huyết hư suy, chính khí bất túc phát sinh ra bệnh tật. Lao động, tập luyện làm khí huyết lưu thông, ngược lại ít vận động gây khí huyết trở trệ là điều kiện dễ phát sinh bệnh tật.

Bẩm thụ tiên thiên: Tiên thiên ảnh hưởng đến loại hình thể chất mà loại hình thể chất khác nhau chính là biều hiện bên ngoài của công năng tạng phủ khác nhau và sẽ quyết định khả năng kháng tà khí gây bệnh của cơ thể (Giáp ất kinh có chương luận về Âm dương nhị thập ngũ nhân). Ngoài ra, một số bệnh tật có thể phát sinh do tiên thiên cha mẹ truyền cho không được
hoàn chỉnh (tiên thiên bất túc).

3. Theo kinh nghiệm dân gian, một số thực phẩm được xem là thuốc kháng sinh tự nhiên như: hành, tỏi, gừng, diếp cá, mật ong… điều đó có đúng không ạ? Trong mùa dịch COVID-19, mọi người dùng những món này bao nhiêu là đủ, dùng nhiều quá có hại gì không?

Các thực phẩm đồng thời là các dược liệu như hành (thông bạch), tỏi (đại toán), gừng (sinh khương), diếp cá (ngư tinh thảo), mật ong (phong mật) đều có hoạt tính ức chế vi khuẩn và virus phát triển. Như ở tỏi và hành có allicin là hoạt chất chính kháng vi khuẩn và vi nấm; ở gừng có gingerols và shogaols là hai hoạt chất chính có tác dụng kháng vi khuẩn, virus.
Nghiên cứu của Peter Josling (2001) cho thấy bổ sung tỏi với 180 mg chiết xuất tỏi trong 12 tuần làm giảm nguy cơ mắc cảm lạnh thông thường.
Các nghiên cứu về liều dùng của tỏi rất thay đổi tùy theo mục đích. Để tăng cường miễn dịch và điều trị cúm, liều tỏi được nghiên cứu là 2.56 g chiết xuất tỏi già/ngày trong 45 ngày.
Liều khuyến cáo của tỏi là khoảng 4g tỏi tươi hoặc 1 viên tỏi x 2-3 lần/ngày. Các nghiên cứu cho thấy liều cao tỏi gây giảm cân và thiếu máu, thậm chí viêm dạ dày và tử vong.

4. Ngoài những thực phẩm nêu trên, đông y còn có những món ăn – bài thuốc nào giúp tăng sức đề kháng cho các lứa tuổi?

Linh chi (Ganoderma lucidum) với thành phần chính là polysaccharide có hoạt tính thúc đẩy sự hoạt hóa và trưởng thành của tế bào nhiều chân. Nghiên cứu đã chứng minh linh chi làm tăng biểu hiện các thụ thể bề mặt của tế bào nhiều chân như CD80, CD86, CD83, CD40, CD54 và HLA-DR, tăng sản xuất IL-10, IL-12p70/40 và tăng khả năng kích thích tế bào T của tế bào nhiều chân.

Bổ cốt chi (Fructus psoraleae) và nh đảm tử (Brucea javanica) trong mô hình chuột nhiễm Pneumocystis carinii đã cho thấy khả năng làm tăng cường chức năng của tế bào giết tự nhiên chống lại nhiễm vi sinh vật.

Ginsenosides, thành phần của nhân sâm (Panax ginseng) được báo cáo là có khả năng làm tăng hoạt động miễn dịch của lympho T CD4+.

Bổ trung ích khí thang được chứng minh kích thích hệ thống miễn dịch niêm mạc đường hô hấp trên, gây tăng sản xuất các kháng thể đặc hiệu cho kháng nguyên ở cả trên niêm mạc được hô hấp trên và hệ thống miễn dịch toàn thể.

Ngũ gia bì gai (Acanthopanax senticosus) cho thấy tác dụng bảo vệ khỏi tác động của tia xạ bằng cách kích thích sự tăng sinh và sự tự hồi phục của tế bào gốc tạo máu (là tiền thân của tất cả các tế bào máu bao gồm bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu.

Thập toàn đại bổ cũng cho thấy hiệu quả tăng tạo tế bào lympho ở người.

Nhân sâm dưỡng vinh thang được nghiên cứu cho thấy có tác dụng cải thiện sự sản xuất quá mức cytokine của Th1 và Th2 và duy trì hằng định nội môi của cytokine.

Bạch thược (Paeonia moutan) được xem là tác nhân mới trong điều trị ung thư gan (HCC), các nghiên cứu cho thấy paeonol trong bạch thược ức chế sự phát triển của khối u thông qua việc thúc đẩy tế bào ung thư đi vào chu trình apoptosis và kích thích sản xuất IL-2 và TNF-α.

Hoàng kỳ (Radix Astragali) có chức năng bảo vệ cơ quan miễn dịch (hạch lympho, lách, tuyến ức) bằng cách làm giảm các thay đổi bệnh lý trong cơ quan miễn dịch, giảm TNF-α và ức chế biểu hiện Bax và sự apoptosis của lách và tuyến ức. Phối hợp hoàng kỳ, nữ trinh tử (Fructus Ligustri Lucidi), cỏ mực (Eclipta prostrate) có thể làm tăng trọng lượng của các cơ quan miễn dịch như lách và tuyến ức.

Một số thảo dược có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch: Xuyên tâm liên, Mướp hương, Nhân sâm, Hoàng kỳ.

Có thể cứu ấm các huyệt Phong môn, Phế du, Thận du, Túc tam lý để nâng cao chính khí, phóng tránh ngoại tà. Ngoài ra, Ngọc bình phong tán cũng có tác dụng nâng cao vệ khí, kháng ngoại tà.

Nghiên cứu của Peter Josling (2001) cho thấy bổ sung tỏi trong 12 tuần làm giảm nguy cơ mắc cảm lạnh thông thường.

Vitamin A giúp tăng cường miễn dịch và phòng các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

Vitamin E giúp tăng cường miễn dịch, tăng cường đề kháng chống nhiễm virus cúm, giảm nhiễm trùng hô hấp trên.

Vitamin D với liều duy nhất 2.5 mg làm tăng cường hệ miễn dịch và phòng chống nhiễm trùng. Bổ sung kẽm liều 70 mg mỗi tuần làm giảm và ngăn ngừa tử vong do viêm phổi.

5. Y học cổ truyền hay hiện đại đều đồng ý việc vận động sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch, nhưng vận động như thế nào là đủ thì nhiều người chưa rõ. Thế nào là vận động vừa phải, nếu luyện tập nhiều quá thì có hại ra sao?

Tập luyện: cường độ trung bình, 45 phút/ngày, 5 ngày/tuần; tuy nhiên trong một nghiên cứu trên 115 phụ nữ sau mãn kinh thừa cân hoặc béo phì thì nguy cơ sai lệch cao, lợi ích không rõ.

6. Tâm lý căng thẳng và những xáo trộn trong sinh hoạt khiến cho nhiều người bị mất ngủ trong mùa dịch COVID-19. Cách giúp mọi người dễ ngủ và ngủ ngon? Những phương pháp y học cổ truyền nào giúp mọi người kiện toàn sức khỏe khi bước vào giai đoạn này?

Sau thời gian giãn cách xã hội, chúng ta đang từng bước tái hòa nhập, song song đó, việc ra khỏi nhà, gặp gỡ nhiều người cũng khiến nguy cơ nhiễm virus SARS-CoV-2 cao hơn.

Theo khuyến cáo của Hiệp Hội tâm thần Hoa Kỳ, cần vệ sinh giấc ngủ đúng để có giấc ngủ tốt, cần thực hiện các việc sau:
• Thức giấc cùng một giờ hàng ngày
• Giới hạn thời gian nằm trên giường trước khi ngủ
• Không dùng các chất kích thích thần kinh trung ương (cà phê, thuốc lá, rượu)
• Tránh ngủ chợp mắt ban ngày (ngủ trưa).
• Tập các bài tập thể dục sôi nổi vào buổi sáng sớm
• Tránh xa các sự kiện gây kích thích
• Tắm nước nóng khoảng 20 phút trước khi đi ngủ
• Ăn vào một giờ nhất định trong ngày, không ăn nhiều trước khi đi ngủ
• Tập các bài tập thư giãn đầu óc và cơ vào các buổi tối hàng ngày
• Cố gắng có được các điều kiện ngủ thoải mái

7. Có ý kiến cho rằng sốt là biểu hiện của cơ thể khi hệ miễn dịch bẩm sinh (thụ động) làm việc để chống lại tác nhân gây bệnh. Việc xông hơi (bằng nồi lá xông) theo y học cổ truyền khiến cho cơ thể ở trong trạng thái giống như sốt, đánh thức hệ miễn dịch. Điều này có đúng không? Vì sao sau khi xông hơi, chúng ta cảm thấy khỏe hơn?

Xông hơi có thể đem lại các lợi ích sức khỏe bao gồm giải độc, tăng cường chuyển hóa, giảm cân, tăng lưu thông máu, giảm đau, chống lão hóa, trẻ hóa da, cải thiện chức năng tim mạch, cải thiện chức năng miễn dịch, cải thiện giấc ngủ, kiểm soát căng thẳng và thư giãn. Việc tiếp xúc với nguồn nhiệt trong thời gian ngắn làm tăng nhiệt độ của da và nhiệt độ trung tâm của cơ thể làm hoạt hóa trung tâm điều nhiệt ở vùng dưới đồi và hệ thống thần kinh trung ương từ đó làm hoạt hóa hệ thần kinh tự động. Sự hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm, trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận, hoạt hóa hệ renin-angiotensin-aldosterone dẫn đến tạo hiệu ứng tốt lên hệ tim mạch làm tăng nhịp tim, tăng máu lưu thông đến da, tăng cung lượng tim, và tăng ra mồ hôi. Ở cấp độ tế bào, việc tăng nhiệt độ cấp toàn thân làm thúc đẩy sản xuất các protein sốc nhiệt, giảm các gốc oxi hóa, giảm stress oxi hóa, giảm viêm, tăng nitric oxide, tăng nhạy cảm insulin.

Xông hơi theo y học cổ truyền ngoài tác dụng nhiệt do hơi nước nóng, còn có tác dụng của các hoạt chất từ thảo dược, đặc biệt là tnh dầu theo hơi nước tác động đến cơ thể. Các tinh dầu có tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn, dãn cơ trơn đường hô hấp, ngoài ra còn tác động lên thần kinh trung ương làm giảm stress, giảm đau. Theo Christopher E Ekpenyong và cộng sự (2015), tổng hợp các nghiên cứu cho thấy tác dụng sinh học của tinh dầu sả: tác động thần kinh (giảm đau, giảm stress, bảo vệ thần kinh, chống động kinh), tác dụng kháng sinh (như Escherichia coli, Proteus vulgaris, Klebsiella pneumonia, …), kháng viêm giảm đau, chống oxi hóa và thu dọn gốc tự do, làm giảm đường huyết, kháng kết tập tiểu cầu, tác động lên tim mạch (giảm nhịp tim, chống tăng huyết áp), ức chế sinh ung, chống béo phì.

Theo thống kê của nhóm tác giả Neda Nayebi và cộng sự (2017) có 12 nghiên cứu trên người, 21 nghiên cứu trên động vật thí nghiệm và 30 nghiên cứu in vitro về tác dụng của hoa hồng Rosa damascena Mill. Các nghiên cứu trên in vitro cho thấy tác dụng: kháng viêm, kháng khuẩn, kháng tế bào ung thư, kháng oxi hóa, bảo vệ thần kinh và tăng cường trí nhớ, tác động lên tim mạch (tăng huyết áp, ức chế men tổng hợp cholesterol), kháng tia UV, ức chế vi khuẩn sinh mụn Propionibacterium acnes. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy tác dụng như: tác động lên thần kinh (chống động kinh, bảo vệ thần kinh, tăng cường trí nhớ, giảm đau, thư giãn, chống trầm cảm), kháng viêm, tác động lên tim mạch (giảm lipid máu), kháng sinh, chống oxi hóa, chống đái tháo đường. Các nghiên cứu trên người cho thấy hiệu quả ban đầu trên: tác động giảm đau (đau vết thương bỏng, đau bụng kinh, đau hậu phẫu), cải thiện khó thở trên trẻ sơ sinh, tăng testosterone, kháng trầm cẩm, tác động thư giãn.

8. Thế nào là cách xông hơi đúng chuẩn? Dường như thành phần nồi lá xông ở mỗi địa phương sẽ khác nhau đôi chút, điều này có ảnh hưởng đến hiệu quả hay không? Trường hợp nào thì bệnh nhân nên và không nên xông hơi?

Thời gian xông trung bình từ 5 đến 15 phút, nhiệt độ từ khoảng 70-80 oC (cho nồi xông cá nhân – trùm chăn)

Tác dụng của xông hơi theo y học cổ truyền gồm tác dụng nhiệt và tác dụng của dược liệu. Do đó tùy tình trạng bệnh mà thành phần dược liệu sẽ khác nhau, không thể giống nhau.

Đối với cảm phong hàn: Sinh khương, Khương hoạt, Hương nhu, Phòng phong, Kinh giới, Tân di, Tô diệp, Gừng, Xã….
Đối với cảm phong nhiệt: Bạc hà, Kinh giới, Tía tô, Vỏ quít, Vỏ bưởi, Lá Bưởi, Gừng, Sả, …
Theo y học cổ truyền, xông hơi được dùng trong các bệnh lý cảm lạnh thông thường, trong một số bệnh da liễu và ngoại khoa cần điều trị tại chỗ như chàm, mề đay, trĩ, …
Vì xông hơi gây ra mồ hôi dẫn đến mất nước và điện giải, đối với các bệnh nhân có tình trạng mất nước (như tiêu chảy, ra mồ hôi nhiều, mất máu cấp, vận động viên tập luyện nhiều có mất nước), hoặc có tình trạng rối loạn điện giải do bệnh lý hoặc do thuốc (như thuốc lợi tiểu, bệnh thận mạn).

9. Hiện trên các trang mạng có giới thiệu sản phẩm khẩu trang ướp tinh dầu sả, tinh dầu tràm, … sẽ giúp ngăn ngừa việc lây bệnh COVID-19 tốt hơn; cũng có ý kiến nên dùng tinh dầu xông trong nhà. Tinh dầu có thể giúp ngăn chặn việc lây nhiễm vi trùng, virus không?

Tinh dầu xả (Cymbopogon citratus) có thể ức chế tăng sinh HSV1 trên in vitro khi cho tương tác trực tiếp với virus ở 42oC trong 24 giờ. Hiện chưa có dữ liệu báo cáo về độc tính của tinh dầu xả, tuy nhiên kinh nghiệm dân gian thường xử dụng để phòng và trị cảm lạnh. Chưa có nghiên cứu nào báo cáo cho thấy tinh dầu xả giúp ngăn ngừa việc lây nhiễm siêu vi trên người kể cả siêu vi Cúm thông thường và COVID-19.

Tinh dầu tràm (Melaleuca Leucadendron) cho đến hiện nay chỉ được báo cáo trên thực nghiệm về tác dụng kháng viêm, kháng oxi hóa, kháng virus HSV-1. Ngoài ra còn tác dụng xua các loài muỗi như Aedes, Anopheles, và Culex. Hiện nay chưa có nghiên cứu nào báo cáo tinh dầu tràm có thể ngăn ngừa lây nhiễm Cúm nói chung.

10. Đông Y có thể đóng góp như thế nào trong các dịch bệnh trước đây và trong dịch Covid 19 hiện nay?

Trong dịch SARS năm 2003, các nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy thuốc y học cổ truyền bổ sung vào điều trị thường quy giúp giảm thời gian kéo dài các triệu chứng, cải thiện triệu chứng, cải thiện tỷ lệ tử vong. Theo tổng quan của Ping-Chung Leung (2007 khi đánh giá toàn cảnh các nghiên cứu trong dịch SARS tại Trung Quốc với 130 nghiên cứu, trong đó 90 nghiên cứu được đủ tiêu chuẩn đưa vào phân tích. Các kết quả cho thấy hiệu quả khi thêm thuốc y học cổ truyền vào điều trị thường quy sẽ kiểm soát tốt sốt, giải quyết nhiễm trùng nhanh hơn, ít phải dùng steroid hơn, một số bằng chứng còn thấy rằng y học cổ truyền là tăng cường miễn dịch.

Ngoài ra, thuốc y học cổ truyền còn có tác dụng phòng ngừa lây nhiễm bệnh, một báo cáo ở Hồng Kong các bài thuốc được dùng như Tang cúc ẩm, Ngọc bình phong tán có gia thêm 2 vị là Đại thanh diệp và Hoàng cầm.

Hiện tại chưa có báo cáo thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả của thuốc y học cổ truyền trong phòng ngừa COVID-19. Tuy nhiên, tại Trung Quốc, dựa trên kinh nghiệm và các nghiên cứu sử dụng y học cổ truyền trong phòng ngừa các dịch bệnh SARS, dịch cúm trước đây, tính đến tháng 2/2020, có 23 tỉnh đã đưa ra chương trình khuyến cáo sử dụng bài thuốc y học cổ
truyền trong phòng ngừa COVID-19. Tính đến tháng 3 năm 2020, có đến 303 nghiên cứu lâm sàng đang được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của y học cổ truyền trong điều trị COVID-19 tại Trung Quốc. Bộ Y Tế Trung Quốc cũng đã ban hành đến phiên bản thứ 6 Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID19, và kể từ phiên bản thứ 4, thuốc y học cổ truyền đã được khuyến cáo trong điều trị ở các giai đoạn khác nhau. Theo Hướng dẫn phiên bản mới nhất, các bài thuốc y học cổ truyền được dùng trong phòng ngừa COVID-19: Hoắc hương chính khí tán, Khu phong giải độc hoàn, Ngân hoa thanh cảm hoàn. Dùng điều trị có các bài thuốc: Thanh phế bại độc thang, Xi Yan Ping Injection, Xue Bi Jing injection, Re Du Ning Injection, Tan Re Qing Injection, Xing Nao Jing Injection và một số bài thuốc khác. Đối với bệnh nhân nặng, chăm sóc tích cực, các bài thuốc có thể dùng: Sinh mạch tiêm, Tô hợp hương tiêm, An cung ngưu hoàng hoàn. Theo báo cáo của Cục quản lý Trung y Trung Quốc, đến ngày 5/2/2020, 214 bệnh nhân COVID-19 được điều trị với bài Thanh phế bại độc thang đã có hiệu quả trên 90%. Sau đó, một báo cáo khác lấy dữ liệu 701 bệnh nhân COVID-19 tại 10 tỉnh Trung Quốc, với kết quả 130 bệnh nhân (18.5%) hoàn toàn khỏi với điều trị bằng Thanh phế bại độc thang. Hai báo cáo hồi cứu lâm sàng cho thấy Liên hoa thanh ôn hoàn có hiệu quả trong điều trị COVID-19./.

Tài liệu đọc thêm:

1. Dai, X. D., et al. (2007), “Effects of Fructus Psoralea and Brucea javanica on the level of IL-2 and NK cell in rats infected with Pneumocystis carinii”, Zhongguo ji sheng chong xue yu ji sheng chong bing za zhi= Chinese journal of parasitology & parasitic diseases. 25(5), pp. 436-438.
2. Ekpenyong, Christopher E., Akpan, Ernest, and Nyoh, Azah (2015), “Ethnopharmacology, phytochemistry, and biological activities of Cymbopogon citratus (DC.) Stapf extracts”, Chinese journal of natural medicines. 13(5), pp. 321- 337.
3. He, J., et al. (1992), “Effects of mixture of Astragalus membranaceus, Fructus Ligustri lucidi and Eclipta prostrata on immune function in mice”, Hua xi yi ke da xue xue bao= Journal of West China University of Medical Sciences= Huaxi yike daxue xuebao. 23(4), pp. 408-411.
4. Hisha, Hiroko, et al. (2002), “Treatment of Shwachman syndrome by Japanese herbal medicine (Juzen‐taiho‐to): Stimulatory effects of its fatty acids on hemopoiesis in patients”, Stem cells. 20(4), pp. 311-319.
5. Josling, Peter (2001), “Preventing the common cold with a garlic supplement: a double-blind, placebo-controlled survey”, Advances in therapy. 18(4), pp. 189-193.
6. Katona, Peter and Katona-Apte, Judit (2008), “The interaction between nutrition and infection”, Clinical Infectious Diseases. 46(10), pp. 1582-1588.
7. Kiyohara, H., et al. (2006), “Stimulating effect of Japanese herbal (kampo) medicine, hochuekkito on upper respiratory mucosal immune system”, Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine. 3(4), pp. 459-467.
8. Lau, Joseph T. F., et al. (2005), “The use of an herbal formula by hospital care workers during the severe acute respiratory syndrome epidemic in Hong Kong to prevent severe acute respiratory syndrome transmission, relieve influenza-related symptoms, and improve quality of life: a prospective cohort study”, Journal of Alternative & Complementary Medicine. 11(1), pp. 49-55.
9. Lee, Eui-joon, et al. (2004), “Ginsenoside Rg1 enhances CD4+ T-cell activities and modulates Th1/Th2 differentiation”, International immunopharmacology. 4(2), pp. 235-244.
10. Leung, Ping-Chung (2007), “The efficacy of Chinese medicine for SARS: a review of Chinese publications after the crisis”, The American journal of Chinese medicine. 35(04), pp. 575-581.
11. Lin, Yu‐Li, et al. (2005), “Polysaccharide purified from Ganoderma lucidum induced activation and maturation of human monocyte‐derived dendritic cells by the NF‐κB and p38 mitogen‐activated protein kinase pathways”, Journal of leukocyte biology. 78(2), pp. 533-543.
12. Luo, Hui, et al. (2020), “Can Chinese medicine be used for prevention of corona virus disease 2019 (COVID-19)? A review of historical classics, research evidence and current prevention programs”, Chinese journal of integrative
medicine, pp. 1-8.
13. Maciocia, Giovanni (2008), The Practice of Chinese Medicine The Treatment of Diseases with Acupuncture and Chinese Herbs, Churchill Livingstone – Elsevier.
14. Miyanomae, T. and Frindel, E. (1988), “Radioprotection of hemopoiesis conferred by Acanthopanax senticosus Harms (Shigoka) administered before or after irradiation”, Experimental hematology. 16(9), pp. 801-806.
15. Nakada, Tsutomu, et al. (2002), “Effect of Ninjin-Youei-To on T h 1/T h 2 type cytokine production in different mouse strains”, The American journal of Chinese medicine. 30(02n03), pp. 215-223.
16. Sun, Guo-Ping, et al. (2008), “Anti-tumor effects of paeonol in a HepA-hepatoma bearing mouse model via induction of tumor cell apoptosis and stimulation of IL-2 and TNF-α production”, European journal of pharmacology. 584(2-3), pp. 246-252.
17. Yang, Yang, et al. (2020), “Traditional Chinese medicine in the treatment of patients infected with 2019-new coronavirus (SARS-CoV-2): a review and perspective”, International journal of biological sciences. 16(10), p. 1708.
18. Zhang, Rui-Ping, et al. (2009), “Protective effect of Radix Astragali injection on immune organs of rats with obstructive jaundice and its mechanism”, World Journal of Gastroenterology: WJG. 15(23), p. 2862.
19. Allan, G. Michael and Arroll, Bruce (2014), “Prevention and treatment of the common cold: making sense of the evidence”, CMAJ : Canadian Medical Association journal = journal de l’Association medicale canadienne. 186(3), pp. 190-199.
20. Amer, A. and Mehlhorn, H. (2006), “Repellency effect of forty-one essential oils against Aedes, Anopheles, and Culex mosquitoes”, Parasitol Res. 99(4), pp. 478-90.
21. El-Saber Batiha, G., et al. (2020), “Chemical Constituents and Pharmacological Activities of Garlic (Allium sativum L.): A Review”, Nutrients. 12(3).
22. Hussain, Joy and Cohen, Marc (2018), “Clinical Effects of Regular Dry Sauna Bathing: A Systematic Review”, Evidence-based complementary and alternative medicine : eCAM. 2018, pp. 1857413-1857413.
23. Jantan, Ibrahim, Ahmad, Waqas, and Bukhari, Syed Nasir Abbas (2015), “Plant-derived immunomodulators: an insight on their preclinical evaluation and clinical trials”, Frontiers in plant science. 6, pp. 655-655.
24. Nantz, M. P., et al. (2012), “Supplementation with aged garlic extract improves both NK and γδ-T cell function and reduces the severity of cold and flu symptoms: a randomized, double-blind, placebo-controlled nutrition intervention”, Clin Nutr. 31(3), pp. 337-44.
25. Nawawi, A., et al. (1999), “Inhibitory effects of Indonesian medicinal plants on the infection of herpes simplex virus type 1″, Phytother Res. 13(1), pp. 37-41.
26. Semwal, R. B., et al. (2015), “Gingerols and shogaols: Important nutraceutical principles from ginger”, Phytochemistry. 117, pp. 554-568.
27. Surh, J. and Yun, J. M. (2012), “Antioxidant and Anti-inflammatory Activities of Butanol Extract of Melaleuca leucadendron L”, Prev Nutr Food Sci. 17(1), pp. 22-8.

Bài viết Đông y và Covid-19 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/dong-y-va-covid-19/feed/ 0
Bài thuốc chữa lãnh cảm nữ giới trong y học cổ truyền Nhật Bản https://vanquocduocvuong.vn/bai-thuoc-chua-lanh-cam-nu-gioi-trong-y-hoc-co-truyen-nhat-ban/ https://vanquocduocvuong.vn/bai-thuoc-chua-lanh-cam-nu-gioi-trong-y-hoc-co-truyen-nhat-ban/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:09 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/bai-thuoc-chua-lanh-cam-nu-gioi-trong-y-hoc-co-truyen-nhat-ban/ Văn hoá Bushido của Nhật bản đã góp phần đưa tới sự ra đời văn hoá Geisha. Các Geisha làm nghề giải trí, tán tỉnh, khêu gợi, kể chuyện, tâm tình … với khách thượng lưu, samurai, giới quý tộc Nhật nhưng sẽ bị khai trừ khỏi nghề này khi có quan hệ tình dục với khách. Trong hoàn [...]

Bài viết Bài thuốc chữa lãnh cảm nữ giới trong y học cổ truyền Nhật Bản đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Văn hoá Bushido của Nhật bản đã góp phần đưa tới sự ra đời văn hoá Geisha. Các Geisha làm nghề giải trí, tán tỉnh, khêu gợi, kể chuyện, tâm tình … với khách thượng lưu, samurai, giới quý tộc Nhật nhưng sẽ bị khai trừ khỏi nghề này khi có quan hệ tình dục với khách. Trong hoàn cảnh như vậy, dần dần các nữ Geisa bị trơ lỳ ngưỡng xúc cảm và bị chứng lãnh cảm nữ dục. Khi kết thúc sự nghiệp Geisha để hoàn tục, tình trạng lãnh cảm có thể giảm dần, nhưng một số khác phải uống thuốc mới trở về đời sống sinh lý bình thường được.

Trong sách Tử hoa bản thảo, bài thuốc chữa lãnh cảm cho các Geisha gọi là Mộc dược hoàn (フルログ) đọc tiếng Nhật là Ge-đí-đó-gệt. Đại ý là thuốc chữa cho chứng người nữ lãnh cảm như khúc gỗ biết đi.

Bài cổ phương Mộc hoàn dược gồm Nhân sâm, Hoàng kỳ, Nhục đậu khấu, Xà sàng tử lượng bằng nhau. 

Trong đó, Nhân sâm đại bổ khí tiên thiên, hậu thiên, phục hồi hưng phấn thần kinh, tâm thần là quân dược; Hoàng kỳ bổ khí thăng dương, kiện tỳ hỗ trợ cho Nhân sâm phát huy tác dụng là thần dược; Nhục đậu khấu cay tính ôn, mạnh Tỳ Vị đại trường, hạn chế tính thanh lương của Nhân sâm là tá dược; Xà sàng tử dẫn các vị thuốc tới mạch Xung, Nhâm và mệnh môn hỏa là sứ dược. Sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa các vị quân thần tá sứ như trên là nhuần nhuyễn mật thiết.

Để tăng tác dụng và hiệu quả, theo nghiên cứu của y học hiện đại, bài Mộc dược Hoàn được gia thêm 2 vị thuốc sau:

1. Cây thông đất.

2. Đông hầu hoa vàng.

Sau đây xin trình bày thêm về cơ chế tác dụng hỗ trợ chống lãnh cảm nữ của các vị thuốc theo các nghiên cứu dược lý của y học hiện đại:

1. NHÂN SÂM (Radix Ginseng hay Radix ginseng Sylvestris)

Là rễ chế phơi sấy khô của cây Nhân sâm ( Panax ginseng C.A.Mey). Nhân sâm có tác dụng điều hòa hưng phấn và ức chế của vỏ não, chất Saponin của Nhân sâm với liều nhỏ làm hưng phấn trung khu thần kinh và trung tâm tình dục não; Nhân sâm hưng phấn vỏ tuyến thượng thận, trong chuỗi Hạ khâu não – tuyến yên – thượng thận – sinh dục nhờ tăng tiết chất ACTH làm gia tăng cAMP của vỏ tuyến thượng thận. Nên Nhân sâm có tác dụng kích thích hocmon sinh dục giống đực cũng như giống cái; (Trung hoa y học tạp chí, 56:8-10,1963); Nhà khoa học dược lý Sarakhova (1948) tiêm vào chuột cống đực và cái nuôi chung, liều 1/10ml nồng độ 20% thấy nhu cầu tình dục cả 2 phái tăng lên hơn 70% so với nhóm chứng; Khi nghiên cứu nhân sâm với chuyển hóa cơ bản (1947) vô tình tác giả Bộ Nại Thắng và Mã Đại Năng phát hiện: cho uống chế phẩm từ Nhân sâm trên động vật so sánh với các con vật không uống Sâm, thấy trọng lượng con vật tăng lên nhanh hơn, thời gian giao cấu của con vật kéo dài, hiện tượng tình dục xuất hiện rõ rệt. Đó là lý do nhân sâm làm chủ vị và bài Mộc dược hoàn cũng lấy đó làm quân dược.

2. HOÀNG KỲ (Radix Astragali

Là rễ phơi hay sấy khô của cây Hoàng kỳ (Astragalus membranaceus ( Fish) Bunge): Dịch tiêm Hoàng kỳ có tác dụng hưng phấn gây co bóp tử cung cô lập của chuột cống cái 100%.  Ngoài ra, báo cáo của Trương Trạch và Cao Kiều (1940), Hoàng kỳ làm cho kỳ động dục của chuột bạch cái là 1 ngày kéo dài thành 10 ngày. ( Tạp chí Y học Trung quốc 47:7-11,1961).

3. NHỤC ĐẬU KHẤU  (Semen Myristicae Fragranticis)

Qua nghiên cứu dược lý y học hiện đại thấy: Có tinh dầu thơm có khả năng tăng tiết dịch vị, kích thích ăn uống; dùng riêng hoặc dùng chung với dâm dương hoắc đều có tác dụng dậy dục trên chuột cống cái so với đối chứng (Quảng tây, trung tâm nghiên cứu dược liệu, Tạp chí 22:9- 10,1972). Theo các quan sát độc lập tại Ấn độ, Nhục đậu khấu được ví như Viagra của phụ nữ hoặc PT 141 của Đức.

4. XÀ SÀNG TỬ (Semen Cnidii Monnieri)

Xà sàng tử dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh, có tên thực vật là Cnidium monnieri (L) Cusson. Cây Xà sàng là cây Giần sàng mọc hoang ở những nơi đất trống trong nước ta. Mỗi năm từ tháng 6 đến tháng 8 là mùa quả chín, cắt cả cành hay nhổ cả cây về phơi khô lấy quả, loại cành lá và tạp chất, rửa sạch phơi thật khô làm thuốc.  Thành phần chứa Tinh dầu 1,3%, có mùi hắc đặc biệt 1-pinene, 1-camphene, bomyl Isovalerate, Isobomeol, ostole, cnidimine, Isopimpinellinie, dihydro oroselol, columbianadin,cnidiadin, archangelicin. Về tác dụng dược lý, theo y học cổ truyền thường dùng cho người lãnh cảm, tử cung lạnh (dương suy cung lãnh – đàn ông liệt dương, đàn bà không con). Sách Danh y biệt lục ghi: ” lệnh phụ nhân tử tạng nhiệt – làm ấm tử cung đàn bà, nam tử âm cường, hảo nhan sắc,  lệnh nhân hữu tử (dễ sinh con)”;

Xà là rắn, sàng là giường, hay muốn nói xà sàng là cái giường của con rắn, rắn nằm đó ăn hạt Xà sàng; truyền thuyết rằng có người phụ nữ thấy rắn nằm đó đem bắt giết và uống tiết rắn pha rượu. Sau đó nữ nhân này có năng lực tình dục rất mãnh liệt, mọi đàn ông quan hệ với Cổ đều mệt mỏi và không đáp ứng được. Biết được bí kíp này mấy người đàn ông uống trực tiếp hạt Xà sàng tử ngâm rượu, sau đó mới đủ sức khỏe tương hợp nữ nhân trên. Vậy sau này, cụ Tuệ Tĩnh trong cuốn sách Hải Dương phong vật chí mới có câu:

“Gặp đương nhân đương sự không khởi được

Ông già uống Xà sàng sức đương mười thôn nữ”

Nghiên cứu dược lý hiện đại xác nhận Xà sàng tử có tác dụng như testosteron và có tác dụng làm tăng trọng lượng tử cung và buồng trứng. Ngoài ra còn ức chế nấm ngoài da, diệt trùng roi âm đạo.

Bài cổ phương Tam tử hoàn có sử dụng Xà sàng tử, ngũ vị tử, thỏ ty tử phân lượng bằng nhau để chữa phụ nữ vô sinh do lãnh cảm, lạnh tử cung.

5. ĐÔNG HẦU HOA VÀNG

Tên khoa học: Turnera ulmifolia L. Lớp: Equisetopsida C. Agardh, Phân lớp: Magnoliidae Novák ex Takht, Bộ: Malpighiales Juss. ex Bercht. & J. Presl, Họ: Passifloraceae Juss. ex Roussel, Chi: TurneraL, Loài:Turnera ulmifolia L. Turnera ulmifolia L. Theo Phạm Hoàng Hộ, 1999, Cây cỏ Việt Nam, Quyển I, trang 555, lá Đông hầu có tác dụng long đờm, bổ. Ở Mexico và Canada Y học cổ truyền đã biết sử dụng các loài loài khác nhau trong chi Turnera L. để điều trị các bệnh như thiếu máu, viêm phế quản, ho, tiểu đường, sốt, bệnh nấm, rối loạn tiêu hóa, giảm đau, phổi và các bệnh về đường hô hấp, rối loạn da, và bệnh phụ nữ và đặc biệt là tác dụng tăng cường khả năng tình dục 2 giới; Các nhà khoa học đã tách chiết được nhiều hợp chất hóa học có hoạt tính sinh học cao ở trong cây như: Flavonoids (22 hợp chất khác nhau), glucoside maltolt, phenolics, glycosides cyanogenic (7 hợp chất khác nhau), Monoterpenoid, Sesquiterpenoid, triterpenoid, các polyterpene ficaprenol-11, các axit béo, và caffeine. Kết quả thực nghiệm đã chứng minh rằng, nhiều loài trong chi Turnera có tác dụng chữa bệnh đúng như những kinh nghiệm trong Y học cổ truyền, trong đó có trọng tâm là cây Đông hầu: Turnera ulmifolia L; Ngoài ra cây này còn có tác dụng kháng nấm và 1 số loài vi khuẩn, chữa loét dạ dày tá tràng.

6. CÂY THÔNG ĐẤT (Huperzia hamiltonii Spring).

Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Tâm lý học và chương trình trong khoa học thần kinh, Đại học Bucknell, Lewisburg, PA 17.837, Hoa Kỳ cho thấy  acetylcholine có vai trò trong kiểm soát hành vi tình dục của động vật có vú ở cả giống đực và nữ. Hupezin A trong thông đất đã được chứng minh là có tác dụng ức chế Cholinesterase nên tăng được hàm lượng acetylcholine, với nhiều chức năng trong đó có chức năng tăng ham muốn hành vi tình dục và kéo dài.

Như vậy, chứng lãnh cảm nữ không phải bây giờ mới có mà nó đã có rất sớm, cha ông ta cũng đủ lý luận để biện chứng luận trị rất sớm chứng bệnh không hiếm mà không ai nói tới này.                                                         

BS Hoàng Sầm

Chủ tịch hội đồng Viện Y học bản địa Việt Nam

Bài viết Bài thuốc chữa lãnh cảm nữ giới trong y học cổ truyền Nhật Bản đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/bai-thuoc-chua-lanh-cam-nu-gioi-trong-y-hoc-co-truyen-nhat-ban/feed/ 0
2 cách đánh cảm bằng gừng rượu https://vanquocduocvuong.vn/2-cach-danh-cam-bang-gung-ruou/ https://vanquocduocvuong.vn/2-cach-danh-cam-bang-gung-ruou/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:46:57 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/2-cach-danh-cam-bang-gung-ruou/ Đánh cảm là phương pháp xưa được ông cha ta rất ưa chuộng để trị cảm lạnh, cảm cúm, cảm mạo. Chỉ riêng đánh cảm thôi cũng có rất nhiều cách thức thực hiện. Dưới đây chúng tôi sẽ chia sẻ với bạn 2 cách đánh cảm bằng gừng rượu. 2 cách này cũng rất đơn [...]

Bài viết 2 cách đánh cảm bằng gừng rượu đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Đánh cảm là phương pháp xưa được ông cha ta rất ưa chuộng để trị cảm lạnh, cảm cúm, cảm mạo. Chỉ riêng đánh cảm thôi cũng có rất nhiều cách thức thực hiện. Dưới đây chúng tôi sẽ chia sẻ với bạn 2 cách đánh cảm bằng gừng rượu. 2 cách này cũng rất đơn giản, hiệu quả và bất cứ nhà nào cũng có thể tự làm nhé.

Cách 1: Dùng rượu gừng đã ngâm từ lâu.

Rượu gừng ngâm lâu
Rượu gừng ngâm lâu

  • Nếu là rượu gừng đã ngâm thì bạn chỉ cần xoa rượu lên bề mặt da, vuốt nhiều lần để tạo độ ma sát vừa phải làm nóng vùng da đánh cảm.

Cách 2: Dùng gừng tươi và rượu.

Gừng tươi và rượu
Đánh cảm bằng gừng tươi và rượu

  • Nên chọn củ gừng to. Rửa sạch. Cho vào cối giã nhuyễn. Vắt lấy nước cốt rồi thoa lên vùng cần đánh gió.
  • Dùng một chiếc khăn hoặc vải mỏng bọc lấy bã gừng giã và một ít tóc rối. Nhúng bọc vải vào rượu mạnh 35° – 45° chà nhẹ cho đến khi người nóng lên.
  • Khi đánh gió nhớ vuốt từ đỉnh đầu xuống cả người. Phía trước: mặt mũi, ngực, bả vai, cánh tay bên trong bên ngoài, lòng và mu bàn tay, rồi các ngón tay, bụng, bắp vế xuống cho tới lòng và mu bàn chân và các ngón chân. Phía sau: đầu, ót, gáy, lưng, mông xuống cho tới lòng bàn chân và các ngón chân.
  • Đánh xuôi theo 1 chiều nhất định từ trên xuống, từ giữa ra 2 bên. Sau đó, dùng khăn khô lau sạch bã gừng. Cách làm này giúp vùng cơ thể được chà xát sẽ nóng ấm lên, mang lại cảm giác dễ chịu. Lưu ý nếu không có rượu thì làm bình thường.

Song song với đánh cảm, người bệnh cũng cần được bổ sung đầy đủ dinh dưỡng để tăng sức đề kháng và nhanh chóng khỏi bệnh.

Gừng bên cạnh việc điều trị cảm lạnh, cảm cúm bằng cách đánh cảm, người ta còn chữa cảm lạnh bằng gừng hoặc chữa cảm cúm bằng gừng thông qua trà gừng hoặc cháo gừng.

BS Thanh Mai

Bài viết 2 cách đánh cảm bằng gừng rượu đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/2-cach-danh-cam-bang-gung-ruou/feed/ 0
4 cách đánh cảm tại nhà đơn giản hiệu quả https://vanquocduocvuong.vn/4-cach-danh-cam-tai-nha-don-gian-hieu-qua/ https://vanquocduocvuong.vn/4-cach-danh-cam-tai-nha-don-gian-hieu-qua/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:46:57 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/4-cach-danh-cam-tai-nha-don-gian-hieu-qua/ Thời tiết giao mùa, mưa nắng thất thường, nhiệt độ thay đổi liên tục khiến cho không ít người bị cảm. Tuy nhiên các thuốc Tây y trên thị trường hiện chưa có loại nào đặc hiệu dành cho chứng cảm thời tiết này. Y học cổ truyền ra đời cách đây cả ngàn năm. [...]

Bài viết 4 cách đánh cảm tại nhà đơn giản hiệu quả đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Thời tiết giao mùa, mưa nắng thất thường, nhiệt độ thay đổi liên tục khiến cho không ít người bị cảm. Tuy nhiên các thuốc Tây y trên thị trường hiện chưa có loại nào đặc hiệu dành cho chứng cảm thời tiết này.

Y học cổ truyền ra đời cách đây cả ngàn năm. Đúc kết kinh nghiệm sáng tạo ra các cách đơn giản mà đem lại hiệu quả điều trị bất ngờ đó là ĐÁNH CẢM. Nhưng chỉ đơn thuần đánh cảm thì đã có cả vài cách để cho người bệnh có thể lựa chọn. Vậy đó là những cách đánh cảm nào? Dưới đây là tổng hợp 4 cách đánh cảm hiệu quả được áp dụng nhiều nhất.

1. Đánh cảm bằng đồng bạc và trứng gà.

Chính bởi bằng những nguyên liệu dễ tìm là lòng trắng trứng gà và đồng bạc, mà đây có thể xem như là cách chữa cảm đơn giản nhất, dễ thực hiện nhất đối với mọi nhà.

Và để đánh cảm đúng cách và nhận biết đồng bạc xanh đỏ ra làm sao, đây sẽ là nội dung có ích cho bạn: Cách đánh cảm bằng trứng gà

2. Đánh cảm bằng gừng.

  • Nên chọn củ gừng to, rửa sạch, cho vào cối giã nhuyễn, vắt lấy nước cốt rồi thoa lên vùng cần đánh gió.
  • Dùng một chiếc khăn hoặc vải mỏng bọc lấy bã gừng giã và một ít tóc rối bọc rồi nhúng vào rượu mạnh 35° – 45° chà nhẹ cho đến khi người nóng lên.
  • Khi đánh gió nhớ vuốt từ đỉnh đầu xuống cả người phía trước: mặt mũi, ngực, bả vai, cánh tay bên trong bên ngoài, lòng và mu bàn tay, rồi các ngón tay, bụng, bắp vế xuống cho tới lòng và mu bàn chân và các ngón chân, phía sau: đầu, ót, gáy, lưng, mông xuống cho tới lòng bàn chân và các ngón chân.
  • Đánh xuôi theo 1 chiều nhất định từ trên xuống, từ giữa ra 2 bên. Sau đó, dùng khăn khô lau sạch bã gừng. Cách làm này giúp vùng cơ thể được chà xát sẽ nóng ấm lên. Bên cạnh đó mang lại cảm giác dễ chịu. Lưu ý nếu không có rượu thì làm bình thường.

3. Đánh cảm bằng cám gạo rang

  • Lấy cám bỏ vào chảo rang nóng lên
  • Bỏ vào miếng vải túm lại
  • Rồi vuốt từ trên đỉnh đầu vuống xuống
  • Vuốt khắp nơi trong người: đầu tóc, mặt, ngực, bụng, cơ quan sinh dục, lưng, mông, đàng trước đàng sau tay chân, lòng bàn tay bàn chân và ngón tay ngón chân…
  • Cảm nặng thì phải rang 2, 3 mẻ và vuốt vài lần sẽ đỡ ngay.

4. Đánh cảm bằng lá trầu hoặc lá đu đủ

  • Chuẩn bị lá trầu hoặc lá đu đủ: Rửa sạch, để ráo nước
  • Dùng rượu tỏi là tốt nhất.
  • Dùng lá trầu hoặc  lá đu đủ vò nát nhúng vào rượu. Trà sát vào cơ thể theo tuần tự trên xuống dưới, trong ra ngoài.

BS Thanh Mai

Bài viết 4 cách đánh cảm tại nhà đơn giản hiệu quả đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/4-cach-danh-cam-tai-nha-don-gian-hieu-qua/feed/ 0
4 Bước đánh cảm khi bị cảm lạnh – cảm cúm – cảm nắng – trúng gió https://vanquocduocvuong.vn/4-buoc-danh-cam-khi-bi-cam-lanh-cam-cum-cam-nang-trung-gio/ https://vanquocduocvuong.vn/4-buoc-danh-cam-khi-bi-cam-lanh-cam-cum-cam-nang-trung-gio/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:46:57 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/4-buoc-danh-cam-khi-bi-cam-lanh-cam-cum-cam-nang-trung-gio/ Bước 1: Chẩn đoán để đánh cảm Cảm nắng: thường gặp về mùa hè. Biểu hiện người nóng ran, ra mồ hôi, khô miệng, khát nước, họng đỏ đau, đi tiểu ít, người mệt mỏi, nặng hơn có thể choáng váng đầu óc, tức ngực buồn nôn. Cảm lạnh: thường gặp vào mùa đông. Biểu hiện khi [...]

Bài viết 4 Bước đánh cảm khi bị cảm lạnh – cảm cúm – cảm nắng – trúng gió đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Bước 1: Chẩn đoán để đánh cảm
  • Cảm nắng: thường gặp về mùa hè. Biểu hiện người nóng ran, ra mồ hôi, khô miệng, khát nước, họng đỏ đau, đi tiểu ít, người mệt mỏi, nặng hơn có thể choáng váng đầu óc, tức ngực buồn nôn.
  • Cảm lạnh: thường gặp vào mùa đông. Biểu hiện khi bị cảm lạnh thường là gai rét, sợ lạnh, phát sốt nhẹ, không ra mồ hôi, chảy nước mũi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp, nặng có thể gây đau bụng, đại tiện phân nát…
  • Cảm cúm: tình trạng nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính do virus influenza (virus cúm) gây ra. biểu hiện sốt cao, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, hắt hơi, sổ mũi, chảy nước mắt, khô rát họng… Với bệnh cảm cúm, phương pháp đánh cảm chỉ có tác dụng giảm các triệu chứng.
  • Trúng gió: có thể gặp cả 4 mùa. Thường sẽ xuất hiện lần lượt các triệu chứng: ban đầu là sổ mũi, đau họng; tiếp đến là đau đầu cùng thái dương, trước trán; tiếp theo sốt nhẹ,…
  • Khi bị các giai đoạn này có thể dùng đánh cảm để làm giảm các triệu chứng. Nhưng đến khi thấy đau vùng gáy và đỉnh đầu là các tác nhân gây bệnh từ bên ngoài tự nhiên đã xâm nhập vào cơ thể ở mức độ sâu hơn do vậy không dùng đánh cảm nữa.

Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ và tư thế bệnh nhân

  • Cần 2 quả trứng gà luộc, dùng lòng trắng đánh cảm, lòng đỏ ăn trong thời gian đánh cảm.
  • Đồng bạc nguyên chất là tốt nhất, nếu không có bạn có thể dùng tạm đồ trang sức bằng bạc.
  • 1 khăn nhỏ mỏng.
  • Cần phòng kín, tránh gió, không bật điều hòa, không bật quạt..
  • Bệnh nhân có thể ngồi ghế hoặc nằm giường.

Bước 3: Thao tác

  • Cho bệnh nhân ăn lòng đỏ trứng lúc còn nóng.
  • Người đánh cảm bằng lòng trắng trứng còn nóng tách đôi, cho đồng bạc vào giữa 2 phần của lòng trắng trứng, bọc bằng khăn mỏng. Lưu ý đánh cảm lúc lòng trắng còn nóng.
  • Bắt đầu đánh từ đầu, thân, tay chân. Với người cảm nặng nên đánh toàn thân, người cảm nhẹ có thể chỉ cần đánh ở vai lưng.
  • Động tác đánh cảm: miết nhẹ nhàng có độ ấn trên bề mặt da, đánh sao cho lòng trắng không bị nát mà người bệnh vẫn cảm thấy độ nóng ấm sâu là được. Tránh động tác miết mạnh gây tổn thương rát, rộp da.
  • Đánh từ trên xuống dưới, không đánh theo chiều ngược lại:
    • Trán: đánh từ ấn đường ra 2 bên thái dương.
    • Cổ vai: đánh từ gáy ra 2 đầu vai
    • Lưng: đánh trên cổ xuống thắt lưng dọc theo 2 bên cột sống, không đánh vào cột sống.
    • Tay: hướng đánh từ trên vai xuống ngón tay
    • Chân: hướng từ eo xuống bàn chân
    • Bụng: thường ít đánh, nếu bệnh nhân có đau rát họng có thể đánh vùng cổ trước miết dọc theo xương ức.
  • Đánh đến khi lòng trắng gần nguội thì dừng lại.
  • Thời gian đánh cảm mỗi lần khoảng 3-5 phút. Mỗi lần đánh không quá 3 lần/ngày.
  • Đánh đến khi đống bạc vẫn giữ nguyên màu trắng.
  • Sau đánh cảm tránh gió, tránh nước ít nhất 30 phút.

Bước 4: Xem màu đồng bạc để biết bệnh

  • Trắng chuyển sang màu vàng đồng: cảm nắng.
  • Từ màu trắng chuyển đen: cảm lạnh
  • Trắng chuyển xanh đen: trúng gió lạnh
  • Pha nhiều màu: cảm nhiều dạng ngoại tà.

BS Uông Mai

Bài viết 4 Bước đánh cảm khi bị cảm lạnh – cảm cúm – cảm nắng – trúng gió đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/4-buoc-danh-cam-khi-bi-cam-lanh-cam-cum-cam-nang-trung-gio/feed/ 0
12 cách chữa cảm lạnh tại nhà https://vanquocduocvuong.vn/12-cach-chua-cam-lanh-tai-nha/ https://vanquocduocvuong.vn/12-cach-chua-cam-lanh-tai-nha/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:46:57 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/12-cach-chua-cam-lanh-tai-nha/ Cảm lạnh là bệnh lý rất thường gặp. Cũng không phải bệnh chỉ gặp vào mùa thu đông, mùa hè bạn cũng vẫn có thể bị cảm lạnh. Bệnh không nguy hiểm nhưng lại gây khó chịu và ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người bệnh. Hẳn là khi bị cảm lạnh [...]

Bài viết 12 cách chữa cảm lạnh tại nhà đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Cảm lạnh là bệnh lý rất thường gặp. Cũng không phải bệnh chỉ gặp vào mùa thu đông, mùa hè bạn cũng vẫn có thể bị cảm lạnh. Bệnh không nguy hiểm nhưng lại gây khó chịu và ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người bệnh. Hẳn là khi bị cảm lạnh ít người đi khám tại các cơ  sở y tế nhưng cũng không biết cảm lạnh nên làm gì. Bài viết dưới đây tổng hợp lại 12 cách chữa cảm lạnh tại nhà, ban đọc có thể tham khảo.

Cảm lạnh là gì?

Cảm lạnh là tình trạng bị nhiễm lạnh từ môi trường ngoài vào cơ thể. Đó có thể là gió lạnh, có thể là nước lạnh, cũng có thể là dầm mưa lạnh, thậm chí việc (đông y gọi chung là cảm mạo – cảm phong hàn thường gặp vào cuối thu và mùa đông)…

Gây ra các triệu chứng sợ lạnh, ngạt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, ho, đau đầu, phát sốt nhẹ, chân tay mỏi, có thể có buồn nôn hoặc nôn.

Khi bị cảm lạnh cần lưu ý điều gì?

Khi gặp tình trạng cảm lạnh việc đầu tiên là giữ ấm cơ thể, dùng thuốc hoặc các phương pháp điều trị thay thế để làm giảm triệu chứng, ăn uống đồ ăn có vị cay tính ấm để phát tán cái hàn ra khỏi cơ thể, tránh ăn đồ béo ngậy, nên ăn đồ thanh đạm để dễ phát tán hàn ra ngoài.

Cách chữa cảm lạnh

1. Đánh cảm bằng đồng bạc và lòng trắng trứng

Chính bởi bằng những nguyên liệu dễ có là lòng trắng trứng gà và đồng bạc, mà đây có thể xem như là cách chữa cảm đơn giản nhất, dễ thực hiện nhất đối với mọi nhà.

Và để đánh cảm đúng cách và nhận biết đồng bạc xanh đỏ ra làm sao, đây sẽ là nội dung có ích cho bạn: Cách đánh cảm bằng trứng gà

2. Đánh cảm bằng gừng tươi tóc rối rượu trắng or lá trầu và rượu trắng

50g gừng tươi giã nhỏ trộn với rượu trắng, một ít tóc rối (hoặc 100g lá trầu giã nhỏ trộn với rượu trắng) bọc vào miếng vải gạc hay vải màn, chà nhẹ dọc 2 bên sống lưng và tay chân theo chiều trên xuống đến khi nóng vùng da lên. Khi bã gừng (lá trầu) khô thì trộn thêm rượu đánh tiếp. Ngày đánh 1- 2 lần.

3. Xông hơi bằng nồi lá xông

Thành phần nồi lá xông:

  • Lá có tác dụng hạ sốt: lá tre, lá duối,…
  • Nguyên liệu có tác dụng kháng khuẩn: ngải cứu, hương nhu…;
  • Lá chứa tinh dầu: vỏ bưởi, lá bưởi, bạc hà, tía tô, sả….

Tuỳ theo điều kiện từng nơi, không nhất thiết phải có đủ các loại lá theo bài thuốc; chỉ với vài loại như: lá tre, lá bưởi (hoặc chanh), hương nhu, sả, ngải cứu, bạc hà là có thể có được một nồi xông.

Cách đun nồi xông:

  • Đổ nước 2/3 nồi, cho lá có tác dụng hạ nhiệt vào trước.
  • Lúc nước gần sôi thì cho lá có tác dụng kháng khuẩn vào và cuối cùng là bỏ lá tinh dầu vào.
  • Đừng cho tất cả lá vào nấu cùng một lượt, tinh dầu rất dễ bay hơi và như vậy sẽ làm giảm tác dụng điều trị.
  • Cần canh lửa vừa phải, nắp nồi đậy kín, khi nước sôi trở lại 2 – 3 phút thì bắc xuống và xông ngay.

Cách xông:

  • Phòng xông cần đủ kín.
  • Khi thấy nồi nước xông chuẩn bị sôi thì cho người bệnh cởi bỏ quần áo ngoài, mặc bộ quần áo mỏng.
  • Người bệnh ngồi trên một mặt phẳng, tư thế xếp bằng hoặc xếp chân sang một bên, ngẩng cao đầu, nghiêng sang một bên để tránh hơi nước nóng phả mạnh vào mặt, đặt nồi nước xông trước mặt, trùm chăn kín, rồi từ từ mở hé vung nồi cho hơi nước thoát ra, sao cho độ nóng vừa ở mức chịu đựng được.
  • Hít thở mạnh và sâu để hương tinh dầu vào sâu trong phế nang.
  • Thời gian xông hơi khoảng 10 – 15 phút. Đậy vung nồi lại, lau sạch mồ hôi bằng khăn khô sạch, thay quần áo, xong mở chăn. Có thể gạn lấy 1 chén nước trong của nồi nước xông (khoảng 50 ml) cho người bệnh uống hoặc ăn ngay bát cháo nóng.
  • Không dùng trong trường hợp cảm ra nhiều mồ hôi.

4. Xông tinh dầu trị liệu

Bạn có thể xông các loại tinh dầu như: dầu gừng, dầu khuynh diệp, tinh dầu Argol, dầu gió thông thường…đơn giản hơn, không cầu kì, dễ thực hiện.

Cách thực hiện: Cho 5 – 10 giọt vào nước nóng, xông mũi và cổ họng khoảng 10 phút bằng dụng cụ xông (bình xông) hay bằng cách trùm khăn kín đầu.

5. Cứu ngải

  • Dùng điếu ngải cứu vào 3 huyệt Đại chùy, Phong trì, Hợp cốc. Mỗi huyệt cứu từ 3-5 phút.
  • Ngoài ra có thể cứu nóng lòng bàn tay, lòng bàn chân.

6. Giác hơi

Bạn nên giác hơi nhanh, không nên giác hơi kiểu lưu lâu gây xuất huyết da. Giác hơi giúp loại trừ hơi lạnh xâm nhập cơ thể, đồng thời làm giảm nhanh các triệu chứng đau mỏi toàn than hay gặp ở người bị nhiễm lạnh.

7. Cháo giải cảm

Nguyên liệu:

  • Lá tía tô tươi 10g
  • Gừng tươi 10g
  • Hành hoa tươi 20g
  • Gạo tẻ 50g

Cách làm:

  • Gạo nấu thành cháo loãng, nêm muối trắng vừa ăn.
  • Tía tô, hành hoa, gừng rửa sạch thái nhỏ cho vào bát tô, múc cháo đang sôi đổ lên trên, quấy đều.
  • Ăn nóng sau đó đắp chăn cho ra mồ hôi. 10-15 phút bỏ chăn dùng khăn lau khô mồ hồi, tránh gió lùa.
  • Ngày ăn 2 lần sáng chiều

8. Cháo gừng

Nguyên liệu: gừng tươi 20g, gạo tẻ 60g, đường đỏ 15g.

Cách làm: Nấu cháo gừng ăn nóng.

Thích hợp với trường hợp cảm lạnh không có mồ hôi, buồn nôn, nôn.

9. Nước tía tô tươi

Chữa cảm lạnh bằng lá tía tô vốn được coi là phương pháp dân gian quen thuộc với người Việt. Ngoài cháo tía tô giải cảm chúng ta có thể chữa cảm cúm bằng tía tô rất đơn giản.

20g lá tươi giã nhỏ chế nước sôi, gạn lấy nước uống nóng.

Nấu cháo hành tía tô và gừng, ăn nóng.

Thích hợp với cảm lạnh không ra mồ hôi, bụng chướng đầy.

10. Trà gừng

Bạn có thể chữa cảm lạnh bằng gừng theo một cách đơn giản dể thực hiện. Có thể dùng trà gừng sẵn ngoài hiệu thuốc.

Hoặc tự làm trà gừng sẽ tốt hơn: vài lát gừng giã nát thêm chút đường và nước sôi.

11. Mật ong

Chữa cảm lạnh bằng mật ong là một trong những cách chữa cảm lạnh tại nhà hiệu quả

  • Ngậm một lượng mật ong nhất định mỗi ngày ngay khi có các dấu hiệu của bệnh sẽ rút thời gian bị bệnh cảm lạnh tới 2 ngày (theo nghiên cứu của các nhà khoa học trường ĐH Y học Jahrom – Iran).
  • Mật ong và quế : Trộn 1/4 thìa bột quế với 1 thìa mật ong. Ăn hỗn hợp này 2 lần mỗi ngày để trị cảm lạnh.
  • Mật ong và hành tây tươi: Trộn mật ong và hành tây có thể trị cảm lạnh dễ dàng. Cắt hành thành lát mỏng, đổ mật ong lên, ngâm qua đêm và ăn vào sáng hôm sau. Ăn vài lần trong ngày.
  • Mật ong, chanh và gừng: Hỗn hợp mật ong, chanh và gừng có thể loại trừ các triệu chứng cảm lạnh nhanh chóng. Trộn mật ong và nước chanh với lượng bằng nhau. Thêm một chút bột gừng và uống hỗn hợp này vài lần trong ngày.

12. Một ly nước hoa quả nóng

Nó sẽ giúp làm dịu tình trạng viêm họng, giảm sổ mũi, ngạt mũi… vốn rất phổ biến của chứng bệnh này (chuyên gia của Trung tâm Cảm lạnh, trường ĐH Cardiff University.

Trên đây là 12 cách chữa cảm lạnh tại nhà bạn có thể áp dụng. Để cải thiện nhanh triệu chứng của cảm lạnh bạn có thể kết hợp nhiều phương pháp điều trị cùng lúc. Lưu ý bạn cần xác định chính xác có phải bản thân đúng là bị cảm lạnh không hay bị các bệnh lý khác có cùng triệu chứng.

BS. Thanh Mai – Hội Nội khoa Việt Nam

Bài viết 12 cách chữa cảm lạnh tại nhà đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/12-cach-chua-cam-lanh-tai-nha/feed/ 0