Lưu trữ covid-19 - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/tag/covid-19/ Mon, 30 Sep 2024 03:43:17 +0000 vi hourly 1 https://vanquocduocvuong.vn/wp-content/uploads/2022/07/cropped-logo-vanquocduocvuong.png Lưu trữ covid-19 - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/tag/covid-19/ 32 32 Địa long, giun đất và bệnh COVID-19 https://vanquocduocvuong.vn/dia-long-giun-dat-va-benh-covid-19/ https://vanquocduocvuong.vn/dia-long-giun-dat-va-benh-covid-19/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:48:05 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/dia-long-giun-dat-va-benh-covid-19/ Mạng xã hội thời gian gần đây rộ lên thông tin dùng giun đất chữa bệnh COVID-19. Những người khá nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng đã chia sẻ các thông tin này và đăng tải các bài viết phân tích, các nghiên cứu về tác dụng điều trị bệnh giun đất, địa long. [...]

Bài viết Địa long, giun đất và bệnh COVID-19 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Mạng xã hội thời gian gần đây rộ lên thông tin dùng giun đất chữa bệnh COVID-19. Những người khá nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng đã chia sẻ các thông tin này và đăng tải các bài viết phân tích, các nghiên cứu về tác dụng điều trị bệnh giun đất, địa long. Hôm nay tôi muốn chia sẻ đôi điều về vấn đề này để mọi người có thêm cái nhìn khác.

Thứ nhất ta nói về vị thuốc địa long và giun đất

Địa long thực sự là một vị thuốc đông y dùng trong điều trị bệnh. Địa long được bào chế từ con giun đất có tên khoa học Pheretima aspergillum, Pheretima vulgaris Chen., Pheretima guillelmi (Michaelsen), hay Pheretima pectinifera thuộc họ cự dẫn 

Giun đất loại Pheretima aspergillum
Giun đất loại Pheretima aspergillum là một trong các loại giun đất được sử dụng phổ biến để bảo chế địa long

Có thể với nhiều người khái niệm bào chế không quá quen thuộc và hơi chuyên ngành. Mọi người có thể hiểu đơn giản là với cùng nguyên liệu nhưng mỗi phương pháp bào chế khác nhau sẽ cho ra vị thuốc khác nhau. Cũng giống như gạo và cơm. Cùng là cho nước vào gạo đun lên thôi cũng đã có thể cho ra thành phẩm là cơm hoặc cháo rồi.

Phần lớn các vị thuốc y học cổ truyền có tác dụng điều trị bệnh cụ thể hoàn toàn dựa vào phương pháp bào chế. Vì sao tôi phải nhấn mạnh điều này là vì trên mạng lan truyền việc dùng nuốt giun đất sống chữa bệnh covid. Trong y văn có rất ít các trường hợp dùng giun đất sống và đa phần là để bôi ngoài khi kết hợp với các vị thuốc khác nhưng đến nay cũng không còn được dùng nữa.Giun đất ngày nay qua bào chế cũng không còn được dùng phổ biến như trước đây nữa vì có nhiều giải pháp điều trị thay thế.

Vậy làm thế nào để biến giun đất sống thành vị thuốc? 

Con giun đất sống sẽ được lựa chọn kỹ càng. 

Quảng Địa long (hình ảnh từ baidu)
  • Chọn đúng loài giun đất có tác dụng dược lý (đúng tên khoa học)
  • Chọn con giun khỏe mạnh. Tức là phải đào để bắt được giun hoặc dùng phương pháp cưỡng chế giun chui lên mặt đất. Người xưa thường dùng nước giã từ lá nghệ răm hòa với nước đổ xuống đất cho giun chui lên. Còn những con tự chui lên sẽ không được chọn làm thuốc vì đa phần chúng bị bệnh. 

Sau khi bắt được giun khỏe mạnh sẽ bắt tay vào công đoạn bào chế.

  • Có cách rửa sạch nhớt giun bằng nước tro. Sau đó rửa lại bằng nước ấm, mổ dọc thân, rửa sạch các thứ chứa trong bụng giun. Tiếp theo phơi khô hoặc sấy để dùng dần.
  • Có cách khác là sau khi làm sạch giun đất thì ngâm nước vo gạo nếp qua một đêm. Vớt ra tẩm rượu một ngày. Sấy khô. Cho thêm lẫn xuyên tiêu, gạo nếp rồi sao chung. Hễ gạo nếp chín vàng là được. 

Hiện nay các thầy thuốc đông y thường dùng Quảng địa long – Pheretima aspergillum (Quảng Đông, Phúc Kiến, Quảng Tây…) hoặc Hồ địa long – Pheretima vulgaris Chen., Pheretima guillelmi (Michaelsen), hay Pheretima pectinifera (Giang Tô, Chiết Giang, Hồ Bắc, Thượng Hải, Thiên Tân…)

Tác dụng chữa bệnh của Địa long

Trong các tài liệu y văn địa long có vị hàm (mặn), tính hàn. Quy kinh phế,can, tỳ, bàng quang. Địa long có tác dụng thanh nhiệt, trấn kinh, bình suyễn, thông lạc lợi niệu…

Địa long chuyên trị các chứng 

  • Chữa trúng phong, co giật, sốt cao: sốt cao, co giật, động kinh, điên cuồng,….
  • Thông lạc, giảm đau: liệt nửa người, phong thấp tý (viêm khớp, viêm khớp dạng thấp…)
  • Thanh nhiệt bình suyễn: chữa hen phế quản gây khó thở, khò khè…
  • Lợi niệu: thấp nhiệt bàng quang gây bí tiểu, tiểu khó
  • Trị thương hàn, sốt rét
  • Hạ huyết áp: điều trị tăng huyết áp thể can dương thượng cang…

Tất cả các bài thuốc dùng địa long chữa bệnh đều là các bài thuốc phối ngũ với nhiều vị thuốc khác để phù hợp với từng thể bệnh và thể trạng của người bệnh.

Cũng giống như các vị thuốc khác, địa long cũng có chống chỉ định. Vì địa long có tính hàn nên những người thể hư hàn, 

Mối liên hệ giữa Địa long và bệnh Covid 19

Các nghiên cứu về tác dụng điều trị COVID-19 của Địa long

Cần khẳng định rằng cho đến nay chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào được công bố cho kết quả rằng địa long và giun đất có tác dụng điều trị bệnh covid.

Gần đây có thông tin về nghiên cứu máu giun cát trong điều trị covid. Cần làm rõ giun cát là loài khác, giun đất là loài khác. Thêm nữa cũng không nói là nuốt sống để chữa bệnh covid. 

Bệnh covid 19 là mối quan tâm của toàn thế giới, là căn bệnh liên quan đến sự sống chết vì thế nếu thực sự giun đất có tác dụng chữa bệnh thì hẳn là các chuyên gia y tế, chính phủ các nước sẽ không tiếc công sức, tiền của để nghiên cứu và ứng dụng. Khi chưa có bất cứ công bố chính xác nào từ các tổ chức y tế uy tín thì việc cần làm là tuân thủ theo hướng dẫn của bộ y tế về phòng dịch và khi mắc bệnh thì điều trị tại các cơ sở y tế được cấp phép.

Bàn luận về quan điểm dùng Địa long, giun đất điều trị bệnh COVID-19

Cùng phân tích 1 số luận điểm của trường phái dùng giun đất chữa covid

  • Thứ nhất giun đất sống không phải địa long nên không thể quy địa long có tác dụng gì thì giun đất sống cũng giống thế. 
  • Quan điểm địa long hạ sốt, bệnh covid 19 có sốt nên dùng địa long. Có rất nhiều phương pháp hạ sốt đơn giản, an toàn, hiệu quả, được kiểm chứng như paracetamol, chườm ấm… Quan trọng là các phương pháp này đảm bảo vệ sinh nên chúng ta không cần thiết dùng đến địa long và giun đất sống. 
  • Quan điểm địa long chữa khó thở, bệnh covid 19 gây tình trạng khó thở nên dùng địa long. Trước hết cần hiểu rằng cơ chế gây ra tình trạng khó thở có rất nhiều. Covid 19 gây khó thở vì người bệnh bị viêm phổi, các phế nang cùng tiểu phế quản bị viêm, gây đông đặc phổi, làm phổi mất chức năng, dẫn đến khó thở và giảm bão hòa oxy máu. Trong khi công dụng của địa long là làm giảm co thắt cơ trơn phế quản – một trong các nguyên nhân gây khó thở ở bệnh nhân hen suyễn.  
  • Giun đất cũng có hàng nghìn loài. Không phải loài giun đất nào cũng dùng để làm thuốc. Càng không phải cứ ra đào được con giun dưới đất thì gọi là giun đất. 

Kết thúc bài viết này, tôi chỉ muốn nói rằng Y học là lĩnh vực không thể dùng suy luận lý thuyết để nói. Y học cần bằng chứng. Y học cổ truyền càng khó dùng hơn tây y. Không thể nói vì có tác dụng hạ sốt nên cứ sốt là dùng được. Còn phải xem sốt vì nguyên nhân gì? và vị thuốc đó dùng để chữa chứng sốt do nguyên nhân gì? Sốt do thực nhiệt chữa khác, sốt do âm hư chữa khác…. Nếu đơn giản chỉ là lên mạng đọc vài thông tin rồi tự chữa được bệnh thì có lẽ việc đào tạo bác sĩ đã không cần phải đằng đằng 6-7 năm trời, và cũng không cần đến hệ thống bệnh viện. 

BS Uông Mai

Bài viết Địa long, giun đất và bệnh COVID-19 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/dia-long-giun-dat-va-benh-covid-19/feed/ 0
Hậu Covid (Long Covid – COVID kéo dài) và cách khắc phục https://vanquocduocvuong.vn/hau-covid-long-covid-covid-keo-dai-va-cach-khac-phuc/ https://vanquocduocvuong.vn/hau-covid-long-covid-covid-keo-dai-va-cach-khac-phuc/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:48:05 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/hau-covid-long-covid-covid-keo-dai-va-cach-khac-phuc/ 1. Hậu COVID (Long COVID- COVID kéo dài) là gì? Hậu Covid (Long COVID) là một thuật ngữ để mô tả các tác động của Covid-19 tiếp tục trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau khi khỏi bệnh. Viện Y tế và Chất lượng Điều trị Quốc gia Anh (NICE) định nghĩa Long Covid kéo [...]

Bài viết Hậu Covid (Long Covid – COVID kéo dài) và cách khắc phục đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>

1. Hậu COVID (Long COVID- COVID kéo dài) là gì?

Hậu Covid (Long COVID) là một thuật ngữ để mô tả các tác động của Covid-19 tiếp tục trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau khi khỏi bệnh. Viện Y tế và Chất lượng Điều trị Quốc gia Anh (NICE) định nghĩa Long Covid kéo dài hơn 12 tuần, mặc dù một số chuyên gia coi các triệu chứng kéo dài hơn 8 tuần là Long Covidi. 

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa Long Covid “thường là 3 tháng kể từ khi bắt đầu Covid-19 với các triệu chứng kéo dài ít nhất 2 tháng và không thể giải thích bằng một chẩn đoán thay thế.” 

Nghiên cứu được công bố vào tháng 6 năm 2021 bởi Đại học Imperial College London, dựa trên nửa triệu người ở Anh, đã phát hiện ra hai loại chính của các triệu chứng đang diễn ra: một nhóm nhỏ hơn những người có các triệu chứng hô hấp, chẳng hạn như ho hoặc khó thở, (nhóm này có nhiều khả năng ban đầu bị bệnh Covid-19 nghiêm trọng), và một nhóm lớn hơn có nhiều triệu chứng tổng quát hơn, đặc biệt là mệt mỏi và thiếu năng lượng.

Nghiên cứu dựa trên những người đã báo cáo các triệu chứng của họ bị Covid kéo dài trên ứng dụng Nghiên cứu triệu chứng Zoe Covid cũng xác định được hai nhóm triệu chứng chính, một chủ yếu là hô hấp, bao gồm mệt mỏi và đau đầu và nhóm triệu chứng thứ hai ảnh hưởng đến nhiều bộ phận của cơ thể, bao gồm tim, não và ruột. Trong nghiên cứu trên 4.182 người, các triệu chứng về tim thường được báo cáo, chẳng hạn như đánh trống ngực hoặc nhịp tim tăng lên, cũng như các triệu chứng không liên quan đến tim như cảm giác kim châm, tê và ‘sương mù não’.

2. Tỷ lệ mắc hậu COVID (COVID kéo dài – Long COVID)

Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS) ước tính rằng có khoảng 3 – 12% những người bị nhiễm Covid sẽ vẫn có các triệu chứng trong 12 tuần sau lần đầu mắc bệnh. Điều này dựa trên dữ liệu được cung cấp bởi 20.000 người trong Khảo sát Nhiễm trùng Coronavirus (CIS) từ ngày 26/4/2021 đến ngày 1/8/2021.

Điều quan trọng cần lưu ý là những ước tính này đã được thực hiện trước khi Omicron trở thành biến thể thống trị ở Anh. Vì Omicron xuất hiện chưa đủ lâu nên chúng ta vẫn chưa biết liệu nó có nhiều khả năng dẫn đến Covid kéo dài (Long covid) hay không. Bởi vì ngày nay phần lớn dân số thế giới đã được tiêm chủng đầy đủ, nên cũng sẽ khó có thể phân biệt được liệu có bất kỳ sự khác biệt nào về tỷ lệ Covid kéo dài là do sự khác biệt giữa các biến thể hay do tác dụng bảo vệ của việc tiêm chủng hay không.

ONS ước tính rằng 1,3 triệu người ở Anh đã trải qua các triệu chứng Covid kéo dài kể từ ngày 2/1/2022. Con số này chỉ chiếm hơn 1/50 dân số (2,1%). Đây được xác định là các triệu chứng đã kéo dài hơn 4 tuần kể từ lần nhiễm bệnh đầu tiên. Con số này tăng từ 1,2 triệu (1,9%) tính đến ngày 2/10/2021, phản ánh sự gia tăng các ca nhiễm trùng Covid vào tháng 12/2021.

Hơn 4/10 (42%) trong số những người này đã trải qua các triệu chứng Covid kéo dài hơn một năm sau lần đầu tiên bị nghi ngờ nhiễm COVID-19. Gần 2/3 (63%) cho biết các triệu chứng của họ đã làm giảm khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày.

Một nghiên cứu được công bố vào tháng 6 bởi Imperial College, London, trên nửa triệu người trưởng thành ở Anh đã báo cáo bị bệnh Covid cho thấy hơn 1/3 vẫn có ít nhất 1 triệu chứng kéo dài đến 12 tuần sau đó. 

Một nghiên cứu do Đại học Leicester thực hiện trên 1.000 người cần được điều trị tại bệnh viện vì Covid cho thấy phần lớn (7 trong 10 người) vẫn chưa hồi phục hoàn toàn sau 5 tháng kể từ khi họ xuất viện. Các tác giả báo cáo cho biết 1/5 trong số những người trong nghiên cứu có thể được coi là có khuyết tật mới.

Trong số những người đang làm việc trước khi mắc Covid-19, gần 1/5 (17,8%) không còn làm việc và 1/5 (19,3%) đã trải qua sự thay đổi liên quan đến sức khỏe đối với công việc của họ.

3. Mất bao lâu để phục hồi COVID kéo dài?

Các chuyên giai vẫn đang tìm hiểu tình trạng bệnh kéo dài bao lâu và nó khác nhau giữa mọi người như thế nào. Điều quan trọng cần lưu ý là tác động lâu dài không phải chỉ có ở Covid-19 mà các bệnh do vi rút khác cũng có thể có ảnh hưởng lâu dài. Nghiên cứu được dẫn đầu bởi các nhà nghiên cứu Leicester được mô tả ở trên cho thấy rằng trong số những người cần điều trị tại bệnh viện cho căn bệnh ban đầu, bệnh thường kéo dài từ 5 tháng trở lên và có những báo cáo riêng biệt về nó kéo dài 12 tháng hoặc hơn (bao gồm cả hai đối tượng, những người không cần điều trị tại bệnh viện và những người đã điều trị tại viện.)

4. Các triệu chứng của COVID kéo dài

Mặc dù hầu hết những người bệnh Covid-19 đều hồi phục nhanh chóng, nhưng đối với một số tác động của vi rút có thể kéo dài hàng tuần hoặc hàng tháng. Điều này được gọi là “Long Covid”.

Những tác động lâu dài này không chỉ xảy ra ở những người từng phải nhập viện mà cả những người triệu chứng nhẹ, không triệu chứng cũng có thể gặp phải..

Theo ONS, các triệu chứng phổ biến nhất mà những người mắc chứng Covid kéo dài gặp phải là mệt mỏi (51%), mất khứu giác (37%), khó thở (36%), tiếp theo là khó tập trung (28%).

Các triệu chứng kéo dài do COVID-19 gây ra có thể bao gồm:

  • Sự mệt mỏi, thiếu năng lượng
  • Khó thở hoặc thở gấp
  • Ho dai dẳng
  • Rối loạn giấc ngủ: khó ngủ, mất ngủ, ngủ không sâu giấc…
  • Rối loạn tâm thần: lo lắng và trầm cảm
  • Tim mạch: tim đập nhanh, tức ngực hoặc đau ngực, hồi hộp trống ngực
  • Đau khớp hoặc đau mỏi cơ
  • “Sương mù não”: khó hoặc không thể suy nghĩ, giảm hoặc mất tập trung…
  • Rối loạn khứu giác hoặc vị giác

4.1. Đau ngực sau mắc COVID-19

Đau ngực là một triệu chứng phổ biến của Covid-19. Một số người bị đau ngực kéo dài xuất hiện sau khi nhiễm Covid-19 lần đầu hoặc bắt đầu trong vài tuần sau khi họ đã khỏi COVID-19.

Điều quan trọng cần nhớ là đau ngực không chỉ liên quan đến COVID kéo dài mà nó có thể là tình trạng cấp cứu tim mạch do các bệnh lý tim mạch thực sự. Ngay khi có các dấu hiệu của cơn đau ngực, người bệnh cần liên hệ với các nhân viên y tế để được tư vấn và sàng lọc các tình trạng khẩn cấp nhất là khi có kèm một số biểu hiện:

  • Đau ngực đột ngột hoặc dữ dội và không biến mất
  • Đau ngực đột ngột kèm theo nôn, buồn nôn, đổ mồ hôi hoặc khó thở
  • Đau ngực đột ngột kèm theo mất ý thức

Ở các bệnh nhân COVID kéo dài, triệu chứng đau ngực rất đa dạng và khó phân biệt chắc chắn với 1 cơn đau ngực cấp cứu. Phần lớn các bệnh nhân mô tả đau cơ hoặc đau nhức có thể ở một vùng cụ thể hoặc lan rộng hơn xung quanh vùng ngực. Người bệnh có cảm giác đau khi chạm vào và cơn đau tăng lên khi thực hiện các động tác xoay người hoặc cúi, ngửa. Cơn đau không đặc hiệu, có thể đau nhói hoặc âm ỉ, và có thể xảy ra từng cơn ngắn hoặc liên tục, ít có tính chu kỳ.

4.2. Hồi hộp trống ngực, chóng váng, ngất xỉu sau mắc COVID-19

Có bằng chứng mới nổi cho thấy một số người bị Covid kéo dài có các triệu chứng tương tự như những người bị một tình trạng được gọi là hội chứng nhịp tim nhanh tư thế (PoTS). Tình trạng này có thể gây chóng mặt khi di chuyển, thay đổi tư thế. Các triệu chứng phổ biến nhất là cảm thấy choáng váng, đánh trống ngực (nhận biết được nhịp tim của bản thân) và mệt mỏi.

Đã có một số báo cáo trường hợp trong các tạp chí y khoa về những người có các triệu chứng liên tục sau khi nhiễm Covid-19, và một số được phát hiện có PoTS. PoTS xảy ra do cách cơ thể tránh tụt huyết áp khi bạn đứng lên không hoạt động bình thường. Thông thường, khi bạn ngồi xuống hoặc đứng lên, trọng lực làm cho một phần máu của bạn chảy xuống dưới, có thể gây tụt huyết áp. Cơ thể phản ứng để ngăn ngừa giảm huyết áp bằng cách thu hẹp mạch máu và tăng nhẹ nhịp tim. Nhưng nếu bạn có PoTS, những thay đổi tự động này sẽ không xảy ra. Khi bạn chuyển sang tư thế đứng, lượng máu cung cấp cho tim và não của bạn giảm xuống và tim của bạn bắt đầu đập nhanh hơn để bù đắp.

Mặc dù không có cách chữa khỏi PoTS, nhưng nó có thể được kiểm soát bằng chế độ ăn uống, tập thể dục và thuốc. Các nhà nghiên cứu cho biết điều quan trọng là phải được chẩn đoán chính xác để bệnh nhân có thể được điều trị và tư vấn về cách kiểm soát các triệu chứng của họ.

Các chuyên gia khuyến cáo rằng bệnh nhân khó thở, đánh trống ngực, mệt mỏi, đau ngực và ngất xỉu nên được kiểm tra cẩn thận để tìm các vấn đề về hội chứng PoTS. Điều này bao gồm việc kiểm tra tư thế đứng chủ động, đo sự thay đổi nhịp tim và huyết áp của bệnh nhân sau khi chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng…

4.3. Đau lưng sau mắc COVID-19

Trong khi các vấn đề về khớp và cơ có thể xảy ra ở bất kỳ đâu trên cơ thể trong hoặc sau khi mắc Covid-19, các vấn đề về lưng là một trong những vấn đề phổ biến nhất. Bạn có thể đã từng bị đau lưng trước khi mắc Covid-19 và nếu bạn ít vận động hơn khi bị bệnh, điều này có thể khiến các vấn đề về khớp hoặc cơ trở lại, hoặc trở nên tồi tệ hơn. Cứng khớp và yếu cơ cũng có thể trở nên nghiêm trọng hơn nếu bạn không di chuyển nhiều khi bạn không khỏe.

Trong những tuần sau khi tiêm Covid-19, một số người bị đau lưng hoặc cảm giác như bị kim châm. Khi hồi phục, các triệu chứng này cũng có thể cải thiện. Người bệnh có thể chủ động cân bằng giữa nghỉ ngơi với nhiều hoạt động bình thường hàng ngày, đồng thời tập thể dục để cải thiện sức mạnh và sự linh hoạt, chẳng hạn như tập các bài tập dãn cơ hoặc yoga…

5. Phương pháp xét nghiệm và phát hiện sớm COVID kéo dài

Không có một xét nghiệm duy nhất nào để chẩn đoán Covid kéo dài. Hậu Covid hay Long Covid vẫn là một tình trạng chưa được hiểu đầy đủ. Điều quan trọng là khi gặp phải các bất thường về sức khỏe, người bệnh cần nhận được sự tư vấn từ chuyên gia và nhân viên y tế.

Một số xét nghiệm sàng lọc chẩn đoán nguyên nhân có thể bao gồm:

  • Xét nghiệm máu
  • Điện tâm đồ và huyết áp (bao gồm cả huyết áp tư thế)
  • Chụp X-quang (CTscan…) ngực

Hiện các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm những cách mới để kiểm tra Covid kéo dài.

6. Phương pháp điều trị Covid kéo dài

Thật không may, không có một phương pháp điều trị hoặc thuốc đặc hiệu nào để điều trị Covid kéo dài.

Kinh nghiệm của bác sĩ là khác nhau, vì vậy điều quan trọng là trao đổi thông tin sức khỏe với bác sĩ của bạn về các triệu chứng bạn đang gặp phải. Họ có thể cho bạn biết cách quản lý chúng tốt nhất và cho bạn biết những hỗ trợ nào khác có sẵn.

Nếu Covid kéo dài ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của bạn, bạn có thể cần nhập viện điều trị.

Cũng có rất nhiều mẹo nhỏ bạn có thể áp dụng tại nhà để kiểm soát các triệu chứng của Covid kéo dài. Một số mẹo kiểm soát các triệu chứng COVID kéo dài

Quy tỳ thang hỗ trợ điều trị hậu Covid-19

6.1. Mệt mỏi và khó thở

  • Không làm việc quá sức. Cố gắng chia các nhiệm vụ cảm thấy khó thành nhiều phần nhỏ hơn và xen kẽ các hoạt động dễ và khó. Cân nhắc thời gian tốt nhất trong ngày để thực hiện các hoạt động nhất định dựa trên mức năng lượng của bạn.
  • Thường xuyên nghỉ ngơi trong thời gian ngắn sẽ tốt hơn là cố gắng hết sức rồi nghỉ ngơi trong thời gian dài, hãy đảm bảo bạn được  nghỉ ngơi trước khi kiệt sức.
  • Đừng ngừng làm những việc khiến bạn cảm thấy khó thở. Nếu bạn ngừng sử dụng cơ bắp của mình, chúng sẽ yếu đi, có thể khiến bạn khó thở hơn khi cố gắng sử dụng chúng.
  • Cố gắng tăng dần lượng bài tập thể dục. Hãy thử đi bộ ngắn hoặc thực hiện các bài tập sức mạnh cơ bắp đơn giản. Nên tham khảo ý kiến của các huấn luyện viên.  
  • Nếu bạn sử dụng gậy chống hoặc khung, hãy nghiêng người về phía trước khi bạn cảm thấy khó thở.
  • Các bài tập thở là giải pháp hiệu quả giúp cải thiện nhanh triệu chứng khó thở.

6.2. Khôi phục sức khỏe tinh thần

Cần xác định trước rằng bạn có thể sẽ có một số ngày tồi tệ vì thế cần đối xử tử tế hơn với bản thân bằng cách xây dựng kế hoạch làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. 

Kết nối với những người khác có thể giúp bạn cảm thấy hạnh phúc hơn, hãy đảm bảo giữ liên lạc với gia đình và bạn bè.

Hãy tạo ra những thói quen tốt cho tâm trạng của bạn như nghe nhạc giai điệu vui vẻ, xem phim hài hước, mua sắm, vẽ tranh, chơi nhạc, đọc sách, ngồi thiền, thể dục….

Duy trì hoạt động, vận động sẽ giúp giải phóng endorphin và cải thiện tâm trạng của bạn.

6.3. Duy trì khả năng tập trung và trí nhớ

Sử dụng các công cụ ghi chú để giúp bạn ghi nhớ mọi thứ. Bên cạnh đó cũng chủ động tập nhớ các danh mục công việc cần thiết để khôi phục dần khả năng ghi nhớ vốn có của bạn..

Cố gắng giảm bớt phiền nhiễu. Bạn nên lựa chọn những nơi yên tĩnh để rèn luyện khả năng tập trung trước khi quay lại với phong cách làm việc trước đó của bạn.

Việc lập kế hoạch rõ ràng có thể hữu ích trước khi tiếp cận bất kỳ vấn đề hoặc tình huống mới. Hãy chia nhỏ nó thành các bước và tiếp tục kiểm tra kế hoạch của bạn khi bạn làm theo nó.

7. Tiêm phòng và Covid kéo dài

7.1. Tiêm phòng làm giảm nguy cơ mắc Covid kéo dài

Có – có rất nhiều bằng chứng cho thấy việc chủng ngừa sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh Covid kéo dài.

Dữ liệu từ Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS) cho thấy tiêm hai liều vắc-xin có thể giảm 40% nguy cơ mắc bệnh Covid kéo dài (ở những người 18-69 tuổi).

Nghiên cứu từ Đại học King’s College London ủng hộ điều này, cho thấy rằng 2 liều vắc-xin làm giảm một nửa nguy cơ mắc bệnh Covid kéo dài ở người lớn. 

Phân tích, xem xét dữ liệu từ Ứng dụng ZOE Covid trong khoảng thời gian từ ngày 8/12/2020 đến ngày 4/7/2021, cũng cho thấy rằng những người trưởng thành được tiêm chủng đầy đủ ít có khả năng phải điều trị tại bệnh viện hơn và có xu hướng báo cáo các triệu chứng Covid nhẹ hơn những người không được tiêm chủng.

Cả hai nghiên cứu này đều xảy ra trước khi Omicron trở thành biến thể Covid thống trị ở Anh vì vậy cần phải nghiên cứu thêm để hiểu rõ tác động của chúng.

7.2. Tiêm phòng giúp gì khi bạn bị Covid kéo dài

Có một số bằng chứng cho thấy việc chủng ngừa có thể làm giảm Covid kéo dài ở những người nhiễm vi rút trước khi họ được tiêm chủng.

Trong nghiên cứu được công bố vào tháng 10/2021 , Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh đã sử dụng dữ liệu từ Cuộc khảo sát nhiễm trùng Coronavirus của Vương quốc Anh để xem xét mối liên quan giữa tiêm chủng Covid-19 và Covid kéo dài ở những người đã từng tiêm vắc xin này trước khi tiêm vắc xin.

Họ phát hiện ra rằng vắc-xin đầu tiên có liên quan đến việc giảm 13% khả năng tự báo cáo về Covid kéo dài ban đầu, mặc dù không rõ từ dữ liệu liệu đây có phải là sự cải thiện lâu dài hay các triệu chứng quay trở lại sau lần cải thiện ban đầu. Liều thứ hai có liên quan đến việc giảm 9% khả năng tự báo cáo về Covid kéo dài, liên quan đến việc tiêm vắc xin đầu tiên, và có bằng chứng thống kê về sự cải thiện bền vững sau lần này.

Loại vắc xin nào đã được sử dụng (Pfizer, AstraZeneca hoặc Moderna) dường như không tạo ra bất kỳ sự khác biệt nào đối với kết quả. Tuổi, dân tộc, giới tính hoặc các vấn đề sức khỏe khác của người đó cũng không.

Loại nghiên cứu này là quan sát, có nghĩa là nó không thể chứng minh nguyên nhân và kết quả. Nghiên cứu cũng bị giới hạn ở chỗ nó chỉ theo dõi mọi người trung bình 67 ngày sau khi tiêm vắc xin lần hai và không phải tất cả mọi người trong nghiên cứu đều tiêm vắc xin lần hai. Vì vậy, chúng ta không thể chắc chắn từ điều này rằng vắc xin Covid-19 giúp những người bị Covid kéo dài (mặc dù chúng tôi biết rằng chúng giảm nguy cơ mắc lại Covid). Theo thời gian, chất lượng và sự hiểu biết về dữ liệu này sẽ được cải thiện và các kết luận cũng như số liệu thống kê được tạo ra sẽ rõ ràng hơn.

8. Trẻ em và hội chứng Covid kéo dài

Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh (ONS) đã công bố dữ liệu từ Khảo sát Nhiễm trùng Coronavirus ở Anh, xem xét có bao nhiêu người xuất hiện các triệu chứng 5 tuần sau khi nhiễm bệnh. Cuộc khảo sát cho thấy gần 13% trẻ em trong độ tuổi từ hai đến 11 tuổi và 14,5% trẻ em từ 12 đến 16 tuổi báo cáo một số triệu chứng nhất định bao gồm mệt mỏi, ho, nhức đầu, đau cơ hoặc mất vị giác hoặc khứu giác sau 5 tuần sau khi bị bệnh Covid-19. Nhưng không rõ từ dữ liệu được công bố có bao nhiêu trẻ em mà những con số này dựa trên.

ONS cũng công bố dữ liệu cho thấy 1/10 học sinh trung học báo cáo các triệu chứng liên tục hơn 4 tuần sau khi nhiễm Covid-19 được xác nhận. Một tỷ lệ tương tự các học sinh bị nghi ngờ (nhưng chưa được xác nhận) nhiễm trùng Covid-19 cũng báo cáo rằng họ có các triệu chứng kéo dài hơn 4tuần. Các triệu chứng phổ biến nhất là “suy nhược/mệt mỏi”, được báo cáo bởi gần một nửa số học sinh có các triệu chứng kéo dài. 6/10 học sinh có các triệu chứng Covid kéo dài cho biết nó hạn chế khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày. Dữ liệu dựa trên một cuộc khảo sát đối với 2.326 học sinh tại các trường học ở Anh từ ngày 2 đến 26/7/2021.

9. Ai là người có nguy cơ mắc Covid kéo dài

Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ ứng dụng Nghiên cứu triệu chứng COVID để tìm ra ai có nguy cơ mắc Covid kéo dài nhất. Họ phát hiện ra rằng những người lớn tuổi, phụ nữ và những người bị nhiễm trùng nặng hơn (với 5 triệu chứng trở lên trong tuần đầu tiên bị bệnh Covid-19) có nhiều khả năng mắc Covid kéo dài hơn.

Họ phát hiện ra rằng Covid kéo dài ảnh hưởng đến khoảng 1/10 thanh niên 18-49 tuổi mắc Covid-19, tăng lên gần gấp đôi khoảng 1/5 (22%) ở người trên 70 tuổi. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện những người bị hen suyễn cũng có nhiều khả năng bị phát triển Covid kéo dài. Đây là mối liên hệ rõ ràng duy nhất mà họ tìm thấy với tình trạng sức khỏe hiện có ở những người đã bị Covid kéo dài.

Các nhà nghiên cứu từ Bệnh viện Đại học Zurich đã sao lưu những phát hiện này. Nghiên cứu của họ cũng phát hiện ra rằng những người có mức độ thấp của một số kháng thể (IgM và IgG3) trong máu của họ có thể có nhiều khả năng mắc bệnh Covid kéo dài. Khi họ kết hợp dữ liệu kháng thể này với các yếu tố khác (chẳng hạn như tuổi của người đó, số lượng các triệu chứng Covid ban đầu và tiền sử bệnh hen suyễn), họ có thể dự đoán tốt hơn ai sẽ tiếp tục mắc bệnh Covid lâu dài.

Số liệu từ Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh về những người bị Covid kéo dài tự báo cáo cho biết bệnh này phổ biến nhất ở những người ở độ tuổi 35-69, nữ giới, những người sống ở những vùng thiếu thốn nhất, những người làm việc trong lĩnh vực y tế hoặc chăm sóc xã hội, hoặc giảng dạy và giáo dục, và những người có bệnh nền hoặc khuyết tật khác. Nghiên cứu này dựa trên 305,997 người đã trả lời Khảo sát về nhiễm trùng Coronavirus trong 4 tuần đến ngày 2/1/2022.

BS Uông Mai lược dịch

Bài viết Hậu Covid (Long Covid – COVID kéo dài) và cách khắc phục đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/hau-covid-long-covid-covid-keo-dai-va-cach-khac-phuc/feed/ 0
Đông y và Covid-19 https://vanquocduocvuong.vn/dong-y-va-covid-19/ https://vanquocduocvuong.vn/dong-y-va-covid-19/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:48:05 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/dong-y-va-covid-19/ Bài viết của PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bay – Chuyên khoa Y học cổ truyền 1. Cơ chế gây bệnh tật nói chung, bệnh nhiễm trùng nói riêng theo quan niệm của y học cổ truyền là như thế nào? Đông y có cái nhìn như thế nào về dịch bệnh COVID-19? Bệnh theo YHCT Y [...]

Bài viết Đông y và Covid-19 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Bài viết của PGS.TS.BS Nguyễn Thị Bay – Chuyên khoa Y học cổ truyền

1. Cơ chế gây bệnh tật nói chung, bệnh nhiễm trùng nói riêng theo quan niệm của y học cổ truyền là như thế nào? Đông y có cái nhìn như thế nào về dịch bệnh COVID-19?

Bệnh theo YHCT

Y học cổ truyền cho rằng tình trạng khỏe mạnh là sự cân bằng và điều hòa trong mối quan hệ không chỉ của các cơ quan tạng phủ và các hệ thống khác nhau trong cơ thể mà còn giữa cơ thể và môi trường bên ngoài. Khi mối quan hệ nhiều mặt này bị phá vỡ, bệnh tật sinh ra.

Bệnh là sự mất cân bằng Âm – Dương, Khí – Huyết, chức năng Tạng – Phủ. Khi nguyên nhân gây bệnh tác động vào cơ thể làm trạng thái sinh lý của một bộ phận hay hệ thống nào đó bị rối loạn, trở ngại hoặc tổn thương về hình thái, chức năng hoặc trao đổi chất và sự biến đổi này tạm thời không thể tự phục hồi được.

Y học cổ truyền còn cho rằng bệnh là quá trình bệnh lý tổng hợp của tại chỗ và toàn thân, không thể tồn tại bệnh lý tại chỗ đơn thuần và cũng không thể tồn tại bệnh toàn thân mà không có biểu hiện ở một vị trí cụ thể nào đó. Điều này thể hiện quan điểm của y học cổ truyền xem xét bệnh lý chú trọng đến tính chỉnh thể và hệ thống.

Bệnh nhiễm YHCT

Khi chính khí của cơ thể hư nhược hoặc độc lực gây bệnh của tà khí quá mạnh vượt quá khả năng phòng ngự của cơ thể làm cho chính khí hư tương đối so với tà khí thì tà khí xâm nhập vào cơ thể làm rối loạn công năng sinh lý bình thường của cơ thể mà phát sinh bệnh tật. 

Tà khí từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể gây bệnh chia thành hai nhóm, bao gồm: lục dâm (phong hàn thử thấp táo hỏa) và lệ khí. Lệ khí có tính truyền nhiễm mạnh, còn được gọi là dịch độc, dịch khí, dị khí, độc khí. Bệnh do lệ khí gây ra gọi là dịch bệnh, ôn bệnh, ôn dịch bệnh. 

COVID-19

Những diễn tiến và cách biểu hiện bệnh của Covid 19 hiện nay, cũng được Y học cổ truyền nêu gần tương tự như vậy vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên, trong bệnh ngoại cảm (cảm nhiễm các nguyên nhân gây bệnh từ môi trường sống bên ngoài cơ thể). Bệnh ngoại cảm có 2 loại là Thương hàn và Ôn bệnh. 

Thương hàn là bệnh cảnh khởi phát có tính hàn, giai đoạn đầu lạnh nhiều, diễn tiến có quy luật theo 6 giai đoạn (Lục kinh), khi vào sâu mới dần hoá hoả, mới có sốt và làm tổn hao tân dịch, nguyên nhân gây bệnh do Lục dâm (6 thứ khí tự nhiên, nhưng diễn biến trái thường gây bệnh)

Ôn bệnh là tên gọi chung cho các bệnh ngoại cảm có đặc điểm

– Khởi bệnh bằng Sốt cao, bệnh cảnh thiên về nhiệt chứng, và gây tổn hao tân dịch
– Diễn biến có quy luật nhất định theo 4 giai đoạn (Vệ, Khí, Dinh, Huyết)
– Bệnh thường diễn tiến nhanh, cấp tính có thể khỏi tự nhiên, nhưng cũng có thể diễn tiến nặng nề, nhiều biến chứng trầm trọng.
– Bệnh có thể phát triễn thành dịch gọi là “Ôn dịch”
– Nguyên nhân gây bệnh là tà khí lục dâm (như Thương hàn) nhưng thường xảy ra trong thiên tai – chiến tranh địch hoạ, có người chết, có xác động vật chết thối rửa tạo ra tạp vật ô uế xử lý không tốt gọi là Lệ khí

Cơ chế gây bệnh cho cả 2 loại Thương hàn và Ôn bệnh là do CHÍNH KHÍ suy kém, TÀ KHÍ nhân đó mà xâm nhập gây bệnh.Qua mô tả trên có thể thấy mối tương quan Thương hàn là có thể nhiễm các virus thông thường gây bệnh như Sởi, Thuỷ đậu, Sốt xuất huyết, Cúm mùa, … còn virus biến chủng như COVID-19 có thể là Ôn bệnh.

Diễn biến của Ôn bệnh

– Khởi phát ở Vệ phận, biểu hiện phát sốt, sợ lạnh, ho, khát, đau họng
– Vào đến Khí phận, sốt rất cao, khát, ho nhiều, mồ hôi, mình mẩy đau nhức, ngực sườn bứt rức, hồi hộp không yên…
– Vào đến Khí phận, sốt tăng về đêm, khó thở, khó ngủ, tâm phiền bức rức, năng thì mê man nói sảng
– Vào đến Huyết phận: Sốt cao, mặt đỏ, lòng tay chân nóng hực, vật vã phát cuồng, nhiệt lộng bức huyết gây chảy máu ở miệng- nướu răng – mũi – tiêu tiểu, co giật, mê loạn nói nhảm ….

Phương pháp điều trị tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh lý sẽ sử dụng các phương pháp châm cứu, thuốc dược liệu phù hợp như ở Vệ phận thì dùng pháp Tân lương giải biểu, ở khí phận thì dùng pháp Thanh khí tiết nhiệt, ở Dinh phận thì dùng pháp Thanh dinh thấu nhiệt, ở Huyết phận thì dùng pháp Lương huyết tư âm tức phong… Các bài thuốc thường được sử dụng như Ma hạnh Thạch Cam thang, Hoàng liên giải độc thang, Tiểu Sài hồ thang…

Trong đợt Covid hiện nay, Cát Hựu Văn, Viện Y Học Cổ Truyền Trung Quốc, phân tích toàn bộ các đặc điểm của dịch dựa trên những y văn có liên quan từ trước. Trong đó có các bài thuốc đến từ tác phẩm kinh điển “Thương Hàn Tạp Bệnh Luận” của Trương Trọng Cảnh thời Đông Hán (Công Nguyên 150-219). Cuối cùng quyết định đem 4 bài thuốc “Ma Hạnh Thạch Cam Thang”, “Xạ Can Ma Hoàng Thang”, “Tiểu Sài Hồ Thang” và “Ngũ Linh Tán” phối hợp lại với nhau thành một bài thuốc Thanh phế bại độc thang.

Nhóm nghiên cứu Khoa Học Công Nghệ của Cục Quản Lý Y Học Cổ Truyền Quốc Gia công bố kết quả lâm sàng của bài thuốc Thanh Phế Bài Độc Thang. Đồng thời, đơn thuốc và cách sử dụng được công bố cho toàn xã hội. Văn Phòng Ủy Ban Vệ Sinh Sức Khỏe Quốc Gia và Cục Quản Lý Y Học Cổ Truyền Quốc Gia kết hợp phát công văn, đề xuất kết hợp sử dụng bài thuốc Thanh Phế Bài Độc Thang trong điều trị Covid-19.

2. Theo y học cổ truyền, sức đề kháng của mỗi người có thể suy yếu do những nguyên nhân nào?

Sức đề kháng có thể suy yếu do: thể chất suy yếu do bẩm sinh, do còn quá nhỏ tuổi hoặc quá lớn tuổi; tinh thần không thoải mái, cảm xúc tiêu cực kéo dài làm rối loạn công năng sinh lí của cơ thể; dinh dưỡng và rèn luyện không đúng hoặc không đủ, không đúng.

Thể chất: Con người sinh ra, bẩm tố mỗi người mỗi khác nên tính cách cũng có sự khác biệt (mạnh mẽ hoặc nhu nhược), thể chất cũng khác nhau (cường trang hoặc gầy yếu, cao hay thấp), nếu liên hệ với công năng sinh lí thì cũng phân thành thiên âm hay thiên dương. Đặc trưng thể chất của cá thể quyết định khuynh hướng cơ thể sẽ dễ mắc một loại bệnh nào đó, ví dụ như “sấu nhân đa nhiệt, phì nhân đa đàm”. Tuổi nhiều hay ít, thể chất không giống nhau thì cũng có sự khác nhau về phát bệnh, như trẻ em dương khí dễ động nên khi cảm tà dễ hóa nhiệt động phong; người già khí huyết hư suy, nguyên âm nguyên dương suy, phát bệnh thường hư hàn chứng.

Tinh thần: Yếu tố tinh thần ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động công năng của tạng phủ, âm dương, khí huyết, đồng thời nó có thể là nhân tố nội thương làm rối loạn công năng sinh lí mà phát thành bệnh. Ví dụ, trong chứng Vị quản thống thì tình chí uất ức dẫn đến Can khí uất kết mất công năng sơ tiết cho hoạt động của phủ Vị dẫn đến Can Vị bất hòa biểu hiện ợ hơi, ợ chua, đau vùng thượng vị (tình chí là yếu tố gây bệnh); trong chứng trúng phong, trường hợp cơ thể vốn dĩ âm hư, kết hợp với rối loạn tình chí gây can dương cang thịnh, huyết theo khí nghịch mà nhiễu loạn thần minh (tình chí là yếu tố thuận lợi khởi phát trúng phong).

Dinh dưỡng và rèn luyện: Dinh dưỡng và rèn luyện là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự thịnh vượng của chính khí, nâng cao khả năng kháng bệnh. Tiên thiên hữu hạn, phải liên tục bổ sung bằng hậu thiên, nguồn gốc của hậu thiên từ ăn uống, nếu ăn uống không đủ, hoặc ăn uống thiên lệch làm khí huyết hư suy, chính khí bất túc phát sinh ra bệnh tật. Lao động, tập luyện làm khí huyết lưu thông, ngược lại ít vận động gây khí huyết trở trệ là điều kiện dễ phát sinh bệnh tật.

Bẩm thụ tiên thiên: Tiên thiên ảnh hưởng đến loại hình thể chất mà loại hình thể chất khác nhau chính là biều hiện bên ngoài của công năng tạng phủ khác nhau và sẽ quyết định khả năng kháng tà khí gây bệnh của cơ thể (Giáp ất kinh có chương luận về Âm dương nhị thập ngũ nhân). Ngoài ra, một số bệnh tật có thể phát sinh do tiên thiên cha mẹ truyền cho không được
hoàn chỉnh (tiên thiên bất túc).

3. Theo kinh nghiệm dân gian, một số thực phẩm được xem là thuốc kháng sinh tự nhiên như: hành, tỏi, gừng, diếp cá, mật ong… điều đó có đúng không ạ? Trong mùa dịch COVID-19, mọi người dùng những món này bao nhiêu là đủ, dùng nhiều quá có hại gì không?

Các thực phẩm đồng thời là các dược liệu như hành (thông bạch), tỏi (đại toán), gừng (sinh khương), diếp cá (ngư tinh thảo), mật ong (phong mật) đều có hoạt tính ức chế vi khuẩn và virus phát triển. Như ở tỏi và hành có allicin là hoạt chất chính kháng vi khuẩn và vi nấm; ở gừng có gingerols và shogaols là hai hoạt chất chính có tác dụng kháng vi khuẩn, virus.
Nghiên cứu của Peter Josling (2001) cho thấy bổ sung tỏi với 180 mg chiết xuất tỏi trong 12 tuần làm giảm nguy cơ mắc cảm lạnh thông thường.
Các nghiên cứu về liều dùng của tỏi rất thay đổi tùy theo mục đích. Để tăng cường miễn dịch và điều trị cúm, liều tỏi được nghiên cứu là 2.56 g chiết xuất tỏi già/ngày trong 45 ngày.
Liều khuyến cáo của tỏi là khoảng 4g tỏi tươi hoặc 1 viên tỏi x 2-3 lần/ngày. Các nghiên cứu cho thấy liều cao tỏi gây giảm cân và thiếu máu, thậm chí viêm dạ dày và tử vong.

4. Ngoài những thực phẩm nêu trên, đông y còn có những món ăn – bài thuốc nào giúp tăng sức đề kháng cho các lứa tuổi?

Linh chi (Ganoderma lucidum) với thành phần chính là polysaccharide có hoạt tính thúc đẩy sự hoạt hóa và trưởng thành của tế bào nhiều chân. Nghiên cứu đã chứng minh linh chi làm tăng biểu hiện các thụ thể bề mặt của tế bào nhiều chân như CD80, CD86, CD83, CD40, CD54 và HLA-DR, tăng sản xuất IL-10, IL-12p70/40 và tăng khả năng kích thích tế bào T của tế bào nhiều chân.

Bổ cốt chi (Fructus psoraleae) và nh đảm tử (Brucea javanica) trong mô hình chuột nhiễm Pneumocystis carinii đã cho thấy khả năng làm tăng cường chức năng của tế bào giết tự nhiên chống lại nhiễm vi sinh vật.

Ginsenosides, thành phần của nhân sâm (Panax ginseng) được báo cáo là có khả năng làm tăng hoạt động miễn dịch của lympho T CD4+.

Bổ trung ích khí thang được chứng minh kích thích hệ thống miễn dịch niêm mạc đường hô hấp trên, gây tăng sản xuất các kháng thể đặc hiệu cho kháng nguyên ở cả trên niêm mạc được hô hấp trên và hệ thống miễn dịch toàn thể.

Ngũ gia bì gai (Acanthopanax senticosus) cho thấy tác dụng bảo vệ khỏi tác động của tia xạ bằng cách kích thích sự tăng sinh và sự tự hồi phục của tế bào gốc tạo máu (là tiền thân của tất cả các tế bào máu bao gồm bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu.

Thập toàn đại bổ cũng cho thấy hiệu quả tăng tạo tế bào lympho ở người.

Nhân sâm dưỡng vinh thang được nghiên cứu cho thấy có tác dụng cải thiện sự sản xuất quá mức cytokine của Th1 và Th2 và duy trì hằng định nội môi của cytokine.

Bạch thược (Paeonia moutan) được xem là tác nhân mới trong điều trị ung thư gan (HCC), các nghiên cứu cho thấy paeonol trong bạch thược ức chế sự phát triển của khối u thông qua việc thúc đẩy tế bào ung thư đi vào chu trình apoptosis và kích thích sản xuất IL-2 và TNF-α.

Hoàng kỳ (Radix Astragali) có chức năng bảo vệ cơ quan miễn dịch (hạch lympho, lách, tuyến ức) bằng cách làm giảm các thay đổi bệnh lý trong cơ quan miễn dịch, giảm TNF-α và ức chế biểu hiện Bax và sự apoptosis của lách và tuyến ức. Phối hợp hoàng kỳ, nữ trinh tử (Fructus Ligustri Lucidi), cỏ mực (Eclipta prostrate) có thể làm tăng trọng lượng của các cơ quan miễn dịch như lách và tuyến ức.

Một số thảo dược có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch: Xuyên tâm liên, Mướp hương, Nhân sâm, Hoàng kỳ.

Có thể cứu ấm các huyệt Phong môn, Phế du, Thận du, Túc tam lý để nâng cao chính khí, phóng tránh ngoại tà. Ngoài ra, Ngọc bình phong tán cũng có tác dụng nâng cao vệ khí, kháng ngoại tà.

Nghiên cứu của Peter Josling (2001) cho thấy bổ sung tỏi trong 12 tuần làm giảm nguy cơ mắc cảm lạnh thông thường.

Vitamin A giúp tăng cường miễn dịch và phòng các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

Vitamin E giúp tăng cường miễn dịch, tăng cường đề kháng chống nhiễm virus cúm, giảm nhiễm trùng hô hấp trên.

Vitamin D với liều duy nhất 2.5 mg làm tăng cường hệ miễn dịch và phòng chống nhiễm trùng. Bổ sung kẽm liều 70 mg mỗi tuần làm giảm và ngăn ngừa tử vong do viêm phổi.

5. Y học cổ truyền hay hiện đại đều đồng ý việc vận động sẽ giúp tăng cường hệ miễn dịch, nhưng vận động như thế nào là đủ thì nhiều người chưa rõ. Thế nào là vận động vừa phải, nếu luyện tập nhiều quá thì có hại ra sao?

Tập luyện: cường độ trung bình, 45 phút/ngày, 5 ngày/tuần; tuy nhiên trong một nghiên cứu trên 115 phụ nữ sau mãn kinh thừa cân hoặc béo phì thì nguy cơ sai lệch cao, lợi ích không rõ.

6. Tâm lý căng thẳng và những xáo trộn trong sinh hoạt khiến cho nhiều người bị mất ngủ trong mùa dịch COVID-19. Cách giúp mọi người dễ ngủ và ngủ ngon? Những phương pháp y học cổ truyền nào giúp mọi người kiện toàn sức khỏe khi bước vào giai đoạn này?

Sau thời gian giãn cách xã hội, chúng ta đang từng bước tái hòa nhập, song song đó, việc ra khỏi nhà, gặp gỡ nhiều người cũng khiến nguy cơ nhiễm virus SARS-CoV-2 cao hơn.

Theo khuyến cáo của Hiệp Hội tâm thần Hoa Kỳ, cần vệ sinh giấc ngủ đúng để có giấc ngủ tốt, cần thực hiện các việc sau:
• Thức giấc cùng một giờ hàng ngày
• Giới hạn thời gian nằm trên giường trước khi ngủ
• Không dùng các chất kích thích thần kinh trung ương (cà phê, thuốc lá, rượu)
• Tránh ngủ chợp mắt ban ngày (ngủ trưa).
• Tập các bài tập thể dục sôi nổi vào buổi sáng sớm
• Tránh xa các sự kiện gây kích thích
• Tắm nước nóng khoảng 20 phút trước khi đi ngủ
• Ăn vào một giờ nhất định trong ngày, không ăn nhiều trước khi đi ngủ
• Tập các bài tập thư giãn đầu óc và cơ vào các buổi tối hàng ngày
• Cố gắng có được các điều kiện ngủ thoải mái

7. Có ý kiến cho rằng sốt là biểu hiện của cơ thể khi hệ miễn dịch bẩm sinh (thụ động) làm việc để chống lại tác nhân gây bệnh. Việc xông hơi (bằng nồi lá xông) theo y học cổ truyền khiến cho cơ thể ở trong trạng thái giống như sốt, đánh thức hệ miễn dịch. Điều này có đúng không? Vì sao sau khi xông hơi, chúng ta cảm thấy khỏe hơn?

Xông hơi có thể đem lại các lợi ích sức khỏe bao gồm giải độc, tăng cường chuyển hóa, giảm cân, tăng lưu thông máu, giảm đau, chống lão hóa, trẻ hóa da, cải thiện chức năng tim mạch, cải thiện chức năng miễn dịch, cải thiện giấc ngủ, kiểm soát căng thẳng và thư giãn. Việc tiếp xúc với nguồn nhiệt trong thời gian ngắn làm tăng nhiệt độ của da và nhiệt độ trung tâm của cơ thể làm hoạt hóa trung tâm điều nhiệt ở vùng dưới đồi và hệ thống thần kinh trung ương từ đó làm hoạt hóa hệ thần kinh tự động. Sự hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm, trục hạ đồi – tuyến yên – tuyến thượng thận, hoạt hóa hệ renin-angiotensin-aldosterone dẫn đến tạo hiệu ứng tốt lên hệ tim mạch làm tăng nhịp tim, tăng máu lưu thông đến da, tăng cung lượng tim, và tăng ra mồ hôi. Ở cấp độ tế bào, việc tăng nhiệt độ cấp toàn thân làm thúc đẩy sản xuất các protein sốc nhiệt, giảm các gốc oxi hóa, giảm stress oxi hóa, giảm viêm, tăng nitric oxide, tăng nhạy cảm insulin.

Xông hơi theo y học cổ truyền ngoài tác dụng nhiệt do hơi nước nóng, còn có tác dụng của các hoạt chất từ thảo dược, đặc biệt là tnh dầu theo hơi nước tác động đến cơ thể. Các tinh dầu có tác dụng kháng viêm, kháng khuẩn, dãn cơ trơn đường hô hấp, ngoài ra còn tác động lên thần kinh trung ương làm giảm stress, giảm đau. Theo Christopher E Ekpenyong và cộng sự (2015), tổng hợp các nghiên cứu cho thấy tác dụng sinh học của tinh dầu sả: tác động thần kinh (giảm đau, giảm stress, bảo vệ thần kinh, chống động kinh), tác dụng kháng sinh (như Escherichia coli, Proteus vulgaris, Klebsiella pneumonia, …), kháng viêm giảm đau, chống oxi hóa và thu dọn gốc tự do, làm giảm đường huyết, kháng kết tập tiểu cầu, tác động lên tim mạch (giảm nhịp tim, chống tăng huyết áp), ức chế sinh ung, chống béo phì.

Theo thống kê của nhóm tác giả Neda Nayebi và cộng sự (2017) có 12 nghiên cứu trên người, 21 nghiên cứu trên động vật thí nghiệm và 30 nghiên cứu in vitro về tác dụng của hoa hồng Rosa damascena Mill. Các nghiên cứu trên in vitro cho thấy tác dụng: kháng viêm, kháng khuẩn, kháng tế bào ung thư, kháng oxi hóa, bảo vệ thần kinh và tăng cường trí nhớ, tác động lên tim mạch (tăng huyết áp, ức chế men tổng hợp cholesterol), kháng tia UV, ức chế vi khuẩn sinh mụn Propionibacterium acnes. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy tác dụng như: tác động lên thần kinh (chống động kinh, bảo vệ thần kinh, tăng cường trí nhớ, giảm đau, thư giãn, chống trầm cảm), kháng viêm, tác động lên tim mạch (giảm lipid máu), kháng sinh, chống oxi hóa, chống đái tháo đường. Các nghiên cứu trên người cho thấy hiệu quả ban đầu trên: tác động giảm đau (đau vết thương bỏng, đau bụng kinh, đau hậu phẫu), cải thiện khó thở trên trẻ sơ sinh, tăng testosterone, kháng trầm cẩm, tác động thư giãn.

8. Thế nào là cách xông hơi đúng chuẩn? Dường như thành phần nồi lá xông ở mỗi địa phương sẽ khác nhau đôi chút, điều này có ảnh hưởng đến hiệu quả hay không? Trường hợp nào thì bệnh nhân nên và không nên xông hơi?

Thời gian xông trung bình từ 5 đến 15 phút, nhiệt độ từ khoảng 70-80 oC (cho nồi xông cá nhân – trùm chăn)

Tác dụng của xông hơi theo y học cổ truyền gồm tác dụng nhiệt và tác dụng của dược liệu. Do đó tùy tình trạng bệnh mà thành phần dược liệu sẽ khác nhau, không thể giống nhau.

Đối với cảm phong hàn: Sinh khương, Khương hoạt, Hương nhu, Phòng phong, Kinh giới, Tân di, Tô diệp, Gừng, Xã….
Đối với cảm phong nhiệt: Bạc hà, Kinh giới, Tía tô, Vỏ quít, Vỏ bưởi, Lá Bưởi, Gừng, Sả, …
Theo y học cổ truyền, xông hơi được dùng trong các bệnh lý cảm lạnh thông thường, trong một số bệnh da liễu và ngoại khoa cần điều trị tại chỗ như chàm, mề đay, trĩ, …
Vì xông hơi gây ra mồ hôi dẫn đến mất nước và điện giải, đối với các bệnh nhân có tình trạng mất nước (như tiêu chảy, ra mồ hôi nhiều, mất máu cấp, vận động viên tập luyện nhiều có mất nước), hoặc có tình trạng rối loạn điện giải do bệnh lý hoặc do thuốc (như thuốc lợi tiểu, bệnh thận mạn).

9. Hiện trên các trang mạng có giới thiệu sản phẩm khẩu trang ướp tinh dầu sả, tinh dầu tràm, … sẽ giúp ngăn ngừa việc lây bệnh COVID-19 tốt hơn; cũng có ý kiến nên dùng tinh dầu xông trong nhà. Tinh dầu có thể giúp ngăn chặn việc lây nhiễm vi trùng, virus không?

Tinh dầu xả (Cymbopogon citratus) có thể ức chế tăng sinh HSV1 trên in vitro khi cho tương tác trực tiếp với virus ở 42oC trong 24 giờ. Hiện chưa có dữ liệu báo cáo về độc tính của tinh dầu xả, tuy nhiên kinh nghiệm dân gian thường xử dụng để phòng và trị cảm lạnh. Chưa có nghiên cứu nào báo cáo cho thấy tinh dầu xả giúp ngăn ngừa việc lây nhiễm siêu vi trên người kể cả siêu vi Cúm thông thường và COVID-19.

Tinh dầu tràm (Melaleuca Leucadendron) cho đến hiện nay chỉ được báo cáo trên thực nghiệm về tác dụng kháng viêm, kháng oxi hóa, kháng virus HSV-1. Ngoài ra còn tác dụng xua các loài muỗi như Aedes, Anopheles, và Culex. Hiện nay chưa có nghiên cứu nào báo cáo tinh dầu tràm có thể ngăn ngừa lây nhiễm Cúm nói chung.

10. Đông Y có thể đóng góp như thế nào trong các dịch bệnh trước đây và trong dịch Covid 19 hiện nay?

Trong dịch SARS năm 2003, các nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy thuốc y học cổ truyền bổ sung vào điều trị thường quy giúp giảm thời gian kéo dài các triệu chứng, cải thiện triệu chứng, cải thiện tỷ lệ tử vong. Theo tổng quan của Ping-Chung Leung (2007 khi đánh giá toàn cảnh các nghiên cứu trong dịch SARS tại Trung Quốc với 130 nghiên cứu, trong đó 90 nghiên cứu được đủ tiêu chuẩn đưa vào phân tích. Các kết quả cho thấy hiệu quả khi thêm thuốc y học cổ truyền vào điều trị thường quy sẽ kiểm soát tốt sốt, giải quyết nhiễm trùng nhanh hơn, ít phải dùng steroid hơn, một số bằng chứng còn thấy rằng y học cổ truyền là tăng cường miễn dịch.

Ngoài ra, thuốc y học cổ truyền còn có tác dụng phòng ngừa lây nhiễm bệnh, một báo cáo ở Hồng Kong các bài thuốc được dùng như Tang cúc ẩm, Ngọc bình phong tán có gia thêm 2 vị là Đại thanh diệp và Hoàng cầm.

Hiện tại chưa có báo cáo thử nghiệm lâm sàng đánh giá hiệu quả của thuốc y học cổ truyền trong phòng ngừa COVID-19. Tuy nhiên, tại Trung Quốc, dựa trên kinh nghiệm và các nghiên cứu sử dụng y học cổ truyền trong phòng ngừa các dịch bệnh SARS, dịch cúm trước đây, tính đến tháng 2/2020, có 23 tỉnh đã đưa ra chương trình khuyến cáo sử dụng bài thuốc y học cổ
truyền trong phòng ngừa COVID-19. Tính đến tháng 3 năm 2020, có đến 303 nghiên cứu lâm sàng đang được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của y học cổ truyền trong điều trị COVID-19 tại Trung Quốc. Bộ Y Tế Trung Quốc cũng đã ban hành đến phiên bản thứ 6 Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị COVID19, và kể từ phiên bản thứ 4, thuốc y học cổ truyền đã được khuyến cáo trong điều trị ở các giai đoạn khác nhau. Theo Hướng dẫn phiên bản mới nhất, các bài thuốc y học cổ truyền được dùng trong phòng ngừa COVID-19: Hoắc hương chính khí tán, Khu phong giải độc hoàn, Ngân hoa thanh cảm hoàn. Dùng điều trị có các bài thuốc: Thanh phế bại độc thang, Xi Yan Ping Injection, Xue Bi Jing injection, Re Du Ning Injection, Tan Re Qing Injection, Xing Nao Jing Injection và một số bài thuốc khác. Đối với bệnh nhân nặng, chăm sóc tích cực, các bài thuốc có thể dùng: Sinh mạch tiêm, Tô hợp hương tiêm, An cung ngưu hoàng hoàn. Theo báo cáo của Cục quản lý Trung y Trung Quốc, đến ngày 5/2/2020, 214 bệnh nhân COVID-19 được điều trị với bài Thanh phế bại độc thang đã có hiệu quả trên 90%. Sau đó, một báo cáo khác lấy dữ liệu 701 bệnh nhân COVID-19 tại 10 tỉnh Trung Quốc, với kết quả 130 bệnh nhân (18.5%) hoàn toàn khỏi với điều trị bằng Thanh phế bại độc thang. Hai báo cáo hồi cứu lâm sàng cho thấy Liên hoa thanh ôn hoàn có hiệu quả trong điều trị COVID-19./.

Tài liệu đọc thêm:

1. Dai, X. D., et al. (2007), “Effects of Fructus Psoralea and Brucea javanica on the level of IL-2 and NK cell in rats infected with Pneumocystis carinii”, Zhongguo ji sheng chong xue yu ji sheng chong bing za zhi= Chinese journal of parasitology & parasitic diseases. 25(5), pp. 436-438.
2. Ekpenyong, Christopher E., Akpan, Ernest, and Nyoh, Azah (2015), “Ethnopharmacology, phytochemistry, and biological activities of Cymbopogon citratus (DC.) Stapf extracts”, Chinese journal of natural medicines. 13(5), pp. 321- 337.
3. He, J., et al. (1992), “Effects of mixture of Astragalus membranaceus, Fructus Ligustri lucidi and Eclipta prostrata on immune function in mice”, Hua xi yi ke da xue xue bao= Journal of West China University of Medical Sciences= Huaxi yike daxue xuebao. 23(4), pp. 408-411.
4. Hisha, Hiroko, et al. (2002), “Treatment of Shwachman syndrome by Japanese herbal medicine (Juzen‐taiho‐to): Stimulatory effects of its fatty acids on hemopoiesis in patients”, Stem cells. 20(4), pp. 311-319.
5. Josling, Peter (2001), “Preventing the common cold with a garlic supplement: a double-blind, placebo-controlled survey”, Advances in therapy. 18(4), pp. 189-193.
6. Katona, Peter and Katona-Apte, Judit (2008), “The interaction between nutrition and infection”, Clinical Infectious Diseases. 46(10), pp. 1582-1588.
7. Kiyohara, H., et al. (2006), “Stimulating effect of Japanese herbal (kampo) medicine, hochuekkito on upper respiratory mucosal immune system”, Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine. 3(4), pp. 459-467.
8. Lau, Joseph T. F., et al. (2005), “The use of an herbal formula by hospital care workers during the severe acute respiratory syndrome epidemic in Hong Kong to prevent severe acute respiratory syndrome transmission, relieve influenza-related symptoms, and improve quality of life: a prospective cohort study”, Journal of Alternative & Complementary Medicine. 11(1), pp. 49-55.
9. Lee, Eui-joon, et al. (2004), “Ginsenoside Rg1 enhances CD4+ T-cell activities and modulates Th1/Th2 differentiation”, International immunopharmacology. 4(2), pp. 235-244.
10. Leung, Ping-Chung (2007), “The efficacy of Chinese medicine for SARS: a review of Chinese publications after the crisis”, The American journal of Chinese medicine. 35(04), pp. 575-581.
11. Lin, Yu‐Li, et al. (2005), “Polysaccharide purified from Ganoderma lucidum induced activation and maturation of human monocyte‐derived dendritic cells by the NF‐κB and p38 mitogen‐activated protein kinase pathways”, Journal of leukocyte biology. 78(2), pp. 533-543.
12. Luo, Hui, et al. (2020), “Can Chinese medicine be used for prevention of corona virus disease 2019 (COVID-19)? A review of historical classics, research evidence and current prevention programs”, Chinese journal of integrative
medicine, pp. 1-8.
13. Maciocia, Giovanni (2008), The Practice of Chinese Medicine The Treatment of Diseases with Acupuncture and Chinese Herbs, Churchill Livingstone – Elsevier.
14. Miyanomae, T. and Frindel, E. (1988), “Radioprotection of hemopoiesis conferred by Acanthopanax senticosus Harms (Shigoka) administered before or after irradiation”, Experimental hematology. 16(9), pp. 801-806.
15. Nakada, Tsutomu, et al. (2002), “Effect of Ninjin-Youei-To on T h 1/T h 2 type cytokine production in different mouse strains”, The American journal of Chinese medicine. 30(02n03), pp. 215-223.
16. Sun, Guo-Ping, et al. (2008), “Anti-tumor effects of paeonol in a HepA-hepatoma bearing mouse model via induction of tumor cell apoptosis and stimulation of IL-2 and TNF-α production”, European journal of pharmacology. 584(2-3), pp. 246-252.
17. Yang, Yang, et al. (2020), “Traditional Chinese medicine in the treatment of patients infected with 2019-new coronavirus (SARS-CoV-2): a review and perspective”, International journal of biological sciences. 16(10), p. 1708.
18. Zhang, Rui-Ping, et al. (2009), “Protective effect of Radix Astragali injection on immune organs of rats with obstructive jaundice and its mechanism”, World Journal of Gastroenterology: WJG. 15(23), p. 2862.
19. Allan, G. Michael and Arroll, Bruce (2014), “Prevention and treatment of the common cold: making sense of the evidence”, CMAJ : Canadian Medical Association journal = journal de l’Association medicale canadienne. 186(3), pp. 190-199.
20. Amer, A. and Mehlhorn, H. (2006), “Repellency effect of forty-one essential oils against Aedes, Anopheles, and Culex mosquitoes”, Parasitol Res. 99(4), pp. 478-90.
21. El-Saber Batiha, G., et al. (2020), “Chemical Constituents and Pharmacological Activities of Garlic (Allium sativum L.): A Review”, Nutrients. 12(3).
22. Hussain, Joy and Cohen, Marc (2018), “Clinical Effects of Regular Dry Sauna Bathing: A Systematic Review”, Evidence-based complementary and alternative medicine : eCAM. 2018, pp. 1857413-1857413.
23. Jantan, Ibrahim, Ahmad, Waqas, and Bukhari, Syed Nasir Abbas (2015), “Plant-derived immunomodulators: an insight on their preclinical evaluation and clinical trials”, Frontiers in plant science. 6, pp. 655-655.
24. Nantz, M. P., et al. (2012), “Supplementation with aged garlic extract improves both NK and γδ-T cell function and reduces the severity of cold and flu symptoms: a randomized, double-blind, placebo-controlled nutrition intervention”, Clin Nutr. 31(3), pp. 337-44.
25. Nawawi, A., et al. (1999), “Inhibitory effects of Indonesian medicinal plants on the infection of herpes simplex virus type 1″, Phytother Res. 13(1), pp. 37-41.
26. Semwal, R. B., et al. (2015), “Gingerols and shogaols: Important nutraceutical principles from ginger”, Phytochemistry. 117, pp. 554-568.
27. Surh, J. and Yun, J. M. (2012), “Antioxidant and Anti-inflammatory Activities of Butanol Extract of Melaleuca leucadendron L”, Prev Nutr Food Sci. 17(1), pp. 22-8.

Bài viết Đông y và Covid-19 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/dong-y-va-covid-19/feed/ 0
Bộ Y tế đưa ra thông tin khuyến cáo phòng chống viêm phổi cấp do chủng virus mới Coronavirus tại Trung Quốc https://vanquocduocvuong.vn/bo-y-te-dua-ra-thong-tin-khuyen-cao-phong-chong-viem-phoi-cap-do-chung-virus-moi-coronavirus-tai-trung-quoc/ https://vanquocduocvuong.vn/bo-y-te-dua-ra-thong-tin-khuyen-cao-phong-chong-viem-phoi-cap-do-chung-virus-moi-coronavirus-tai-trung-quoc/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:45 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/bo-y-te-dua-ra-thong-tin-khuyen-cao-phong-chong-viem-phoi-cap-do-chung-virus-moi-coronavirus-tai-trung-quoc/ Cơ quan Đầu mối quốc gia thực hiện Điều lệ Y tế quốc tế của Bộ Y tế tổng hợp từ các nguồn tin tính đến ngày 10/01/2020, tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc đã ghi nhận 59 trường hợp mắc viêm phổi cấp, trong đó có 01 trường hợp tử [...]

Bài viết Bộ Y tế đưa ra thông tin khuyến cáo phòng chống viêm phổi cấp do chủng virus mới Coronavirus tại Trung Quốc đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Cơ quan Đầu mối quốc gia thực hiện Điều lệ Y tế quốc tế của Bộ Y tế tổng hợp từ các nguồn tin tính đến ngày 10/01/2020, tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc đã ghi nhận 59 trường hợp mắc viêm phổi cấp, trong đó có 01 trường hợp tử vong. Các trường hợp mắc đều ở thành phố Vũ Hán, chưa có bằng chứng rõ ràng lây truyền từ người sang người, chưa ghi nhận trường hợp nhân viên y tế bị mắc bệnh.Trường hợp tử vong đầu tiên là một đàn ông 61 tuổi, thường xuyên đến mua hàng tại chợ Huanan ở Vũ Hán (nơi có nhiều trường hợp mắc bệnh được ghi nhận) và có tiền sử bị u ổ bụng và bệnh gan mạn tính. Kết quả xét nghiệm cho thấy đã có 41 trường hợp dương tính với chủng vi rút mới của coronavirus (bao gồm cả trường hợp tử vong). 
 
Hiện Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp nào nghi ngờ mắc bệnh nói trên. Trước tình hình diễn biến phức tạp của các trường hợp viêm phổi cấp do chủng vi rút mới coronavirus tại thành phố Vũ Hán, Bộ Y tế liên tục tổ chức các cuộc họp thảo luận đánh giá về tình hình dịch bệnh và các biện pháp phòng chống dịch. Bộ Y tế đã chỉ đạo các địa phương chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh xâm nhập và sẵn sàng thu dung, điều trị, quản lý ca bệnh khi phát hiện trường hợp bệnh đầu tiên (nếu có). 
 
Để chủ động phòng chống bệnh viêm phổi cấp do chủng vi rút mới coronavirus tại thành phố Vũ Hán, Bộ Y tế khuyến cáo người dân và cộng đồng thực hiện tốt các biện pháp sau:
         1. Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh viêm đường hô hấp cấp tính; khi cần thiết phải tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế đúng cách và giữ khoảng cách khi tiếp xúc.
        2. Giữ ấm cơ thể, vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, súc họng bằng nước sát khuẩn miệng để phòng bệnh viêm phổi.
         3. Cần che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, tốt nhất bằng khăn vải hoặc khăn tay để làm giảm phát tán các dịch tiết đường hô hấp.
         4. Hạn chế tiếp xúc gần với các trang trại nuôi động vật hoặc động vật hoang dã.
        5. Những người trở về từ thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc hoặc có tiếp xúc gần với người mắc bệnh viêm phổi tại thành phố Vũ Hán trong vòng 14 ngày nếu có dấu hiệu sốt, ho, khó thở, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám, điều trị kịp thời. 
       
Trung tâm Đáp ứng tình trạng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng (PHEOC)
Bộ Y tế

Bài viết Bộ Y tế đưa ra thông tin khuyến cáo phòng chống viêm phổi cấp do chủng virus mới Coronavirus tại Trung Quốc đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/bo-y-te-dua-ra-thong-tin-khuyen-cao-phong-chong-viem-phoi-cap-do-chung-virus-moi-coronavirus-tai-trung-quoc/feed/ 0
10 câu hỏi về bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Corona nCoV – Viêm phổi Vũ Hán https://vanquocduocvuong.vn/10-cau-hoi-ve-benh-viem-duong-ho-hap-cap-do-virus-corona-ncov-viem-phoi-vu-han/ https://vanquocduocvuong.vn/10-cau-hoi-ve-benh-viem-duong-ho-hap-cap-do-virus-corona-ncov-viem-phoi-vu-han/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:45 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/10-cau-hoi-ve-benh-viem-duong-ho-hap-cap-do-virus-corona-ncov-viem-phoi-vu-han/ Câu hỏi 1:  Vi rút Corona nCoV là gì? Trả lời: Vi rút Corona (nCoV) là một loại vi rút đường hô hấp mới gây bệnh viêm đường hô hấp cấp ở người và cho thấy có sự lây lan từ người sang người. Vi rút này là chủng vi rút mới chưa được xác định [...]

Bài viết 10 câu hỏi về bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Corona nCoV – Viêm phổi Vũ Hán đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Câu hỏi 1:  Vi rút Corona nCoV là gì?

Trả lời: Vi rút Corona (nCoV) là một loại vi rút đường hô hấp mới gây bệnh viêm đường hô hấp cấp ở người và cho thấy có sự lây lan từ người sang người. Vi rút này là chủng vi rút mới chưa được xác định trước đó.

Câu hỏi 2: Nguồn gốc của vi rút Corona nCoV từ đâu?

Trả lời: Các cơ quan y tế và đối tác y tế đang nỗ lực để xác định nguồn gốc của nCoV. Nhiều ý kiến cho rằng, vi rút Corona là một betacoronavirus, thuộc họ với vi rút gây hội chứng MERS-CoV và hội chứng SARS, tất cả đều có nguồn gốc từ vật chủ là loài dơi. Phân tích cây di truyền của vi rút này đang được tiếp tục để biết nguồn gốc cụ thể của vi rút.

Câu hỏi 3: Cơ chế vi rút Corona nCoV lây lan như thế nào?

Trả lời: Vi rút này ban đầu xuất hiện từ nguồn động vật nhưng có khả năng lây truyền từ người sang người. Điều quan trọng cần lưu ý là sự lây lan từ người sang người có thể xảy ra liên tục. Ở người, vi rút lây từ người này sang người kia thông qua tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh. Tùy thuộc vào mức độ lây lan của chủng vi rút, việc ho, hắt hơi hay bắt tay có thể khiến người xung quanh bị phơi nhiễm. 

Vi rút cũng có thể bị lây từ việc ai đó chạm tay vào một vật mà người bệnh chạm vào, sau đó đưa lên miệng, mũi và mắt họ. Những người chăm sóc bệnh nhân cũng có thể bị phơi nhiễm vi rút khi xử lý các chất thải của người bệnh.

Câu hỏi 4: Những triệu chứng và biến chứng mà vi rút Corona nCoV có thể gây ra?

Trả lời: Các triệu chứng của bệnh nhân mắc nCoV từ nhẹ đến nặng bao gồm: sốt, ho và khó thở. Các triệu chứng này có thể xuất hiện từ 02 đến 14 ngày sau khi tiếp xúc nguồn bệnh. Tới khi khởi phát, nCOV gây sốt và có thể tổn thương đường hô hấp. Trường hợp nặng, gây viêm phổi và có thể nhiều cơ quan khác trong cơ thể khiến bệnh nhân tử vong, nhất là các trường hợp có bệnh nền.

Câu hỏi 5: Đã có loại thuốc đặc hiệu nào để phòng và điều trị bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới vi rút Corona nCoV gây ra chưa?

Trả lời: Tại thời điểm này, chưa có loại thuốc đặc hiệu nào để phòng và điều trị bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona nCoV gây ra. Những người bệnh hiện nay được điều trị giảm các triệu chứng, các trường hợp bệnh nặng sẽ được áp dụng các phương pháp điều trị hỗ trợ tối ưu nhất. Một số phương pháp điều trị đặc hiệu đang được nghiên cứu, thực hiện trong điều trị lâm sàng cho các bệnh nhân.

Câu hỏi 6: Nhóm độ tuổi nào dễ bị mắc chủng mới của vi rút Corona?

Trả lời: Người dân ở mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc chủng mới của vi rút Corona. Tuy nhiên, người cao tuổi, người có bệnh mãn tính (như hen phế quản, tiểu đường, bệnh tim mạch,…) sẽ dễ bị mắc và bệnh thường nặng hơn.

Câu hỏi 7: Làm thế nào giúp tôi có thể bảo vệ bản thân?

Trả lời: Để chủ động phòng chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút Corona nCoV, Bộ Y tế khuyến cáo người dân và cộng đồng thực hiện tốt các biện pháp sau:

1. Người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh

– Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh đường hô hấp cấp tính (sốt, ho, khó thở); khi cần thiết phải đeo khẩu trang y tế đúng cách và giữ khoảng cách trên 02 mét khi tiếp xúc.

– Người có các triệu chứng sốt, ho, khó thở không nên đi du lịch hoặc đến nơi tập trung đông người. Thông báo ngay cho cơ quan y tế khi có các triệu chứng kể trên.

– Rửa tay thường xuyên với xà phòng và nước sạch trong ít nhất 30 giây. Trong trường hợp không có xà phòng và nước sạch thì dùng các sản phẩm vệ sinh tay có chứa cồn (ít nhất 60% cồn); súc miệng, họng bằng nước muối hoặc nước xúc miệng, tránh đưa tay lên mắt, mũi, miệng để phòng lây nhiễm bệnh.

– Cần che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, tốt nhất bằng khăn vải hoặc khăn tay, hoặc ống tay áo để làm giảm phát tán các dịch tiết đường hô hấp. Không khạc nhổ bừa bãi nơi công cộng.

– Chỉ sử dụng các thực phẩm đã được nấu chín.

– Không đi du lịch đến các vùng có dịch bệnh. Hạn chế đi đến các nơi tập trung đông người. Trong trường hợp đi đến các nơi tập trung đông người cần thực hiện các biện pháp bảo vệ cá nhân như sử dụng khẩu trang, rủa tay với xà phòng…

– Tránh mua bán, tiếp xúc với các loại động vật nuôi hoặc hoang dã.

– Giữ ấm cơ thể, tăng cường sức khỏe bằng ăn uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt hợp lý, luyện tập thể thao.

– Tăng cường thông khí khu vực nhà ở bằng cách mở các cửa ra vào và cửa sổ, hạn chế sử dụng điều hòa. Thường xuyên lau nền nhà, tay nắm cửa và bề mặt các đồ vật trong nhà bằng các chất tẩy rửa thông thường, như xà phòng và các dung dịch khử khuẩn thông thường khác.

– Nếu có dấu hiệu sốt, ho, khó thở phải đeo khẩu trang bảo vệ, thông báo ngay cho cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám, điều trị kịp thời. Gọi điện cho cơ sở y tế trước khi đến để thông tin về các triệu chứng và lịch trình đã di chuyển trong thời gian gần đây để có biện pháp hỗ trợ đúng.

2. Những người từ Trung Quốc trở về

– Những người từ Trung Quốc trở về Việt Nam cần tự cách ly tại nhà và theo dõi sức khỏe trong vòng 14 ngày. Cần khai báo với cơ quan y tế sở tại nơi gần nhất để được hỗ trợ khi cần thiết.

– Nếu có dấu hiệu sốt, ho, khó thở phải đeo khẩu trang bảo vệ, thông báo ngay đến cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám, điều trị kịp thời. Gọi điện cho cơ sở y tế trước khi đến để thông tin về các triệu chứng và lịch trình đã di chuyển trong thời gian gần đây để có biện pháp hỗ trợ đúng.

3. Những người đi đến Trung Quốc

– Nếu không có việc cần thiết hoặc công việc đột xuất, không nên đến Trung Quốc trong thời gian xảy ra dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút corona nCoV.

– Trường hợp bắt buộc, phải hạn chế ra khỏi nhà, thường xuyên áp dụng các biện pháp phòng bệnh theo khuyến cáo của Bộ Y tế.

– Nếu có dấu hiệu sốt, ho, khó thở phải đeo khẩu trang, thông báo ngay đến cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, khám, điều trị kịp thời. Gọi điện cho cơ sở y tế trước khi đến để thông tin về các triệu chứng và lịch trình đã di chuyển trong thời gian gần đây để có biện pháp hỗ trợ đúng.

Câu hỏi 8: Những khuyến cáo nào khi tôi có lịch trình đi lại, du lịch?

1. Tránh đi lại, du lịch nếu bạn đang có các triệu chứng sốt, ho hoặc khó thở

– Cần đến ngay cơ sở y tế khi có các triệu chứng kể trên.

– Hãy chia sẻ lịch trình di chuyển của bạn với nhân viên y tế.

2. Một số lưu ý để phòng, chống lây nhiễm nCoV

– Tránh tiếp xúc quá gần với người bị sốt hay bị ho.

– Rửa sạch tay thường xuyên với xà phòng và nước sạch; hoặc các loại nước rửa tay có chứa cồn.

– Tránh chạm tay vào mắt, mũi hay miệng.

3. Sử dụng khẩu trang đúng cách

– Khi ho hay hắt hơi, hãy che kín miệng và mũi bằng khăn giấy hoặc tay áo. Sau khi sử dụng khăn giấy, vứt khăn giấy vào thùng rác. Rửa sạch tay ngay lập tức.

– Khi sử dụng khẩu trang, hãy chắc chắn rằng khẩu trang che kín miệng và mũi và tránh chạm vào khẩu trang khi đang sử dụng.

– Nếu sử dụng các loại khẩu trang dùng 01 lần, sau khi sử dụng cần loại bỏ ngay lập tức vào thùng rác và rửa sạch tay sau khi bỏ khẩu trang.

4. Chủ động tìm đến cơ sở y tế nếu bạn bị ốm

– Nếu cảm thấy có dấu hiệu ốm khi đi lại, du lịch cần thông báo ngay cho nhân viên hàng không, đường sắt hoặc ô tô và tìm đến chăm sóc y tế càng sớm càng tốt.

– Hãy chia sẻ lịch trình di chuyển của bạn với nhân viên y tế.

5. Lưu ý quan trọng để phòng, chống lây nhiễm nCoV

– Chỉ sử dụng các loại thực phẩm được nấu chín và đảm bảo an toàn thực phẩm.

– Không khạc nhổ bừa bãi nơi công cộng.

– Tránh tiếp xúc quá gần với các loại động vật nuôi hoặc hoang dã, dù là động vật sống, bị ốm hay đã chết.

Câu hỏi 9: Tôi có thể liên hệ thông báo thông tin bằng cách nào?

Trả lời: Bộ Y tế công bố 02 số điện thoại đường dây nóng cung cấp thông tin về bệnh Viêm đường hô hấp cấp do nCoV 2019: 1900 3228 và 1900 9095.

Cùng với đó, 21 đường dây nóng của các Bệnh viện có cơ sở theo dõi và điều trị cách ly các bệnh nhân nghi nhiễm và nhiễm nCoV:

Bệnh viện Bạch Mai: 0969.851.616

Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương: 0969.241.616

Bệnh viện E: 0912.168.887

Bệnh viện Nhi trung ương: 0372.884.712

Bệnh viện Phổi trung ương: 0967.941.616

Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí: 0966.681.313

Bệnh viện Đa khoa trung ương Thái Nguyên: 0913.394.495

Bệnh viện Trung ương Huế: 0965.301.212

Bệnh viện Chợ Rẫy: 0969.871.010

Bệnh viện Đa khoa trung ương Cần Thơ: 0907.736.736

Bệnh viện Xanh Pôn Hà Nội: 0904.138.502

Bệnh viện Vinmec Hà Nội: 0934.472.768

Bệnh viện Đà Nẵng: 0903.583.881 

Bệnh viện Nhiệt đới TP.HCM: 0967.341.010 

Bệnh viện Nhi đồng 1: 0913.117.965

Bệnh viện Nhi đồng 2: 0798.429.841

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai: 0819.634.807

Bệnh viện Nhiệt đới Khánh Hòa: 0913.464.257

Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa: 0965.371.515

Bệnh viện tỉnh Thái Bình: 0989.506.515

Bệnh viện tỉnh Lạng Sơn: 0396.802.226

Hoặc có thể liên hệ trực tiếp qua các đường dây nóng của các cơ sở y tế tại địa phương.

Câu hỏi 10: Làm thế nào để kiểm tra một người có nhiễm nCoV?

Trả lời: Các kiểm tra chẩn đoán chính xác nCoV chỉ có thể được tiến hành tại các cơ sở y tế được phép thực hiện xét nghiệm. Kỹ thuật xác định chủng nCoV đó gồm kỹ thuật Giải trình tự gene thế hệ mới (Next Generation Sequencing – NGS) và kỹ thuật Real time RT – PCR với bệnh phẩm là dịch đường hô hấp, đờm, dịch nội khí quản được thu thập bằng tăm bông và bảo quản trong môi trường phù hợp. Trong trường hợp người mới nghi nhiễm vi rút Corona, các cơ sở y tế sẽ làm thủ tục lưu mẫu máu để chuyển đến các đơn vị được Bộ Y tế cho phép khẳng định./.

Bài viết 10 câu hỏi về bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Corona nCoV – Viêm phổi Vũ Hán đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/10-cau-hoi-ve-benh-viem-duong-ho-hap-cap-do-virus-corona-ncov-viem-phoi-vu-han/feed/ 0
Cẩm nang hỏi đáp về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng virus Corona mới – nCoV https://vanquocduocvuong.vn/cam-nang-hoi-dap-ve-phong-chong-dich-benh-viem-duong-ho-hap-cap-do-chung-virus-corona-moi-ncov/ https://vanquocduocvuong.vn/cam-nang-hoi-dap-ve-phong-chong-dich-benh-viem-duong-ho-hap-cap-do-chung-virus-corona-moi-ncov/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:45 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/cam-nang-hoi-dap-ve-phong-chong-dich-benh-viem-duong-ho-hap-cap-do-chung-virus-corona-moi-ncov/ Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng vi rút Corona mới gọi tắt là 2019-nCoV. Đây là một loại vi rút mới phát hiện. Vi rút này được xác định trong một cuộc điều tra ổ dịch bắt nguồn từ khu chợ lớn chuyên bán hải sản và động vật ở Vũ Hán, tỉnh [...]

Bài viết Cẩm nang hỏi đáp về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng virus Corona mới – nCoV đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng vi rút Corona mới gọi tắt là 2019-nCoV. Đây là một loại vi rút mới phát hiện. Vi rút này được xác định trong một cuộc điều tra ổ dịch bắt nguồn từ khu chợ lớn chuyên bán hải sản và động vật ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Vi rút gây viêm đường hô hấp cấp ở người và cho thấy có sự lây lan từ người sang người. Ngoài chủng vi rút Corona mới phát hiện này, đã có 6 chủng khác được biết tới ngày nay có khả năng lây nhiễm ở người.

Các cơ quan y tế và đối tác đang nỗ lực để xác định nguồn gốc của 2019-nCoV. Vi rút Corona là một betacoronavirus, giống như MERS và SARS, tất cả đều có nguồn gốc từ vật chủ là loài dơi.

Vi rút Corona là một họ vi rút lớn, phổ biến ở nhiều loài động vật khác nhau bao gồm lạc đà, mèo và dơi. Phân tích cây di truyền của vi rút này đang được tiếp tục để biết nguồn gốc cụ thể của vi rút. SARS, một loại khác xuất hiện lây nhiễm cho người, bắt nguồn từ loài cầy hương, trong khi MERS, một loại khác lây nhiễm cho người, bắt nguồn từ lạc đà.

[pdf-embedder url=”http://vanquocduocvuong.vn/wp-content/uploads/2020/02/BS-VÂN-CẨM-NANG-VỀ-VI-RÚT-CORONA-MỚI-nCoV.pdf” title=”BS VÂN CẨM NANG VỀ VI RÚT CORONA MỚI (nCoV)”]

Sở Y tế TP HCM – Trung tâm kiểm soát bệnh tật thành phố

Bài viết Cẩm nang hỏi đáp về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng virus Corona mới – nCoV đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/cam-nang-hoi-dap-ve-phong-chong-dich-benh-viem-duong-ho-hap-cap-do-chung-virus-corona-moi-ncov/feed/ 0
Virus Corona lây lan như thế nào? https://vanquocduocvuong.vn/virus-corona-lay-lan-nhu-the-nao/ https://vanquocduocvuong.vn/virus-corona-lay-lan-nhu-the-nao/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:45 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/virus-corona-lay-lan-nhu-the-nao/ Với tất cả những bệnh có khả năng lây nhiễm thì mối quan tâm hàng đầu của các chuyên gia y tế cũng như người dân chính là bệnh đó lây truyền qua con đường nào? Sự hiểu biết hiện tại về cách thức virus gây bệnh coronavirus 2019 (COVID-19) lây lan phần lớn dựa [...]

Bài viết Virus Corona lây lan như thế nào? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Với tất cả những bệnh có khả năng lây nhiễm thì mối quan tâm hàng đầu của các chuyên gia y tế cũng như người dân chính là bệnh đó lây truyền qua con đường nào? Sự hiểu biết hiện tại về cách thức virus gây bệnh coronavirus 2019 (COVID-19) lây lan phần lớn dựa trên những gì đã biết về các coronavirus tương tự. COVID-19 là một căn bệnh mới và có nhiều điều để tìm hiểu về sự lây lan của nó cũng như mức độ nghiêm trọng của bệnh.

1. Lây lan từ người sang người qua đường không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp

Bệnh Covid-19 có thể lây lan từ người sang người
Bệnh Covid-19 có thể lây lan từ người sang người

Đây là hình thức lây lan chủ yếu khiến Covid-19 lây lan nhanh. Virus có thể lây lan

  • Giữa những người tiếp xúc gần gũi với nhau như bắt tay, ôm hôn…
  • Thông qua các giọt nước bọt được tạo ra khi người nhiễm bệnh ho hoặc hắt hơi.

Những giọt này có thể rơi vào miệng hoặc mũi của những người ở gần hoặc có thể được hít vào phổi.

2. Lây lan từ việc tiếp xúc với bề mặt hoặc vật có chứa virus

Virus 2019-nCoV có thể bám trên các bề mặt vật dụng
Virus 2019-nCoV có thể bám trên các bề mặt vật dụng

Một người có thể nhiễm COVID-19 thông qua việc chạm vào bề mặt hoặc vật có chứa virut trên đó và sau đó chạm vào miệng, mũi hoặc có thể là mắt của họ, nhưng đây không phải là cách chính của vi-rút lây lan.

3. Lây truyền qua đường phân

Ngoài việc lây lan qua đường hô hấp, thì loại virus này có lây lan qua đường máu, phân, vật liệu ô nhiễm hay không?

Trong một bài báo mới của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Trung Quốc, các nhà nghiên cứu đã tìm cách phân lập virus sống từ các mẫu phân của bệnh nhân Covid-19. Và họ không phải là người đầu tiên để tìm ra virus trong phân.

Trong các báo cáo ban đầu từ Vũ Hán, 10% bệnh nhân mắc COVID-19 có các triệu chứng tiêu hóa như tiêu chảy, đau bụng và nôn. Đau bụng được báo cáo thường xuyên hơn ở những bệnh nhân được đưa vào đơn vị chăm sóc đặc biệt so với những người bệnh nhẹ. Triệu chứng tiêu chảy và buồn nôn thường xuất hiện 1 -2 ngày trước khi người bệnh có biểu hiện sốt và các triệu chứng hô hấp.

RNA SARS-CoV-2 đã được phát hiện trong phân của một bệnh nhân ở Hoa Kỳ.

4. Lây truyền qua đường niêm mạc mắt

Chaolin Huang và các đồng nghiệp báo cáo dịch tễ học, triệu chứng và điều trị bệnh nhân nhiễm coronavirus mới năm 2019 (2019-nCoV) tại Vũ Hán, Trung Quốc. Là bác sĩ nhãn khoa, Chaolin Huang tin rằng việc truyền 2019-nCoV qua mắt đã bị bỏ qua.

Vào ngày 22 tháng 1, Guangfa Wang, một thành viên của hội đồng chuyên gia quốc gia về bệnh viêm phổi, đã báo cáo rằng ông đã bị nhiễm 2019-nCoV trong quá trình kiểm tra tại Vũ Hán. Ông đã đeo mặt nạ N95 nhưng không đeo gì để bảo vệ mắt. Vài ngày trước khi bắt đầu viêm phổi, Wang phàn nàn về đỏ mắt.

Các giọt truyền nhiễm và chất lỏng cơ thể có thể dễ dàng gây ô nhiễm biểu mô kết mạc của con người. Virus đường hô hấp có khả năng gây ra các biến chứng ở mắt ở bệnh nhân bị nhiễm bệnh, sau đó dẫn đến nhiễm trùng đường hô hấp.

Huang và các đồng nghiệp đã phân tích các vết trầy kết mạc từ cả hai trường hợp 2019-nCoV và đưa ra cảnh báo rằng đường hô hấp có lẽ không phải là đường truyền duy nhất cho năm 2019-nCoV, và tất cả các bác sĩ nhãn khoa kiểm tra các trường hợp nghi ngờ nên đeo kính bảo vệ.

5. Lây truyền qua đường khí dung

Khí dung là thủ thuật được áp dụng trong điều trị 1 số bệnh lý hô hấp
Khí dung là thủ thuật được áp dụng trong điều trị 1 số bệnh lý hô hấp

Mới đây nhiều thông tin cho rằng 2019-nCoV có thể lây truyền qua đường bụi khí. Thông tin này ngay lập tức đã được Bộ Y Tế phủ nhận.

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Khoa Nhiễm – thần kinh thuộc Bệnh viện Nhi Đồng 1, cho biết “aerosol” – nguồn lây truyền mới mà các nhà khoa học Thượng Hải (Trung Quốc) cảnh báo – đặt trong bối cảnh này phải dịch là “khí dung”, chứ dịch là “bụi khí” là không chính xác.

Khí dung là một thủ thuật điều trị được áp dụng nhiều trong một số bệnh lý đường hô hấp. Tuy nhiên theo BS Lê Sỹ Hùng, Phó trưởng Khoa nhi, Bệnh viện Bạch Mai, khuyến cáo người dân và các bậc cha mẹ chỉ khí dung cho con trẻ khi có chỉ định của bác sĩ và không tự ý cho con khí dung.

6. Vì sao Covid – 19 lại lây lan nhanh

Virus gây ra Covid-19 – được gọi là SARS-CoV-2 – đã lây nhiễm hơn 87.634 người mắc, 2.995 người tử vong (theo số liệu thống kê đến 23h ngày 1/3/2020). Và lời giải thích tốt nhất cho sự lây lan nhanh chóng này là nó được truyền qua những giọt nước bọt bắn ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi. Khi những giọt chứa virus này từ một người nhiễm bệnh đến mũi, mắt hoặc miệng của người khác, họ có thể truyền bệnh.

Các bệnh về đường hô hấp thường rơi vào hai loại: hô hấp trên – nhiễm trùng ở mũi, hầu họng hoặc thanh quản, như cảm lạnh thông thường và cúm theo mùa; và các bệnh về đường hô hấp dưới, như viêm phổi, nhiễm trùng phổi.

Loại vi-rút mới gây bệnh Covid-19 dường như là một corona khác: Mặc dù cuối cùng nó cũng có thể dẫn đến viêm phổi, vi-rút này làm rất tốt việc sao chép ở đường hô hấp trên, ngay cả khi mọi người không có bất kỳ triệu chứng nào hoặc chỉ bắt đầu cảm thấy ốm mệt.

Một bài báo xuất bản vào ngày 30 tháng 1 trên Tạp chí Y học New England ( NEJM ) về bốn người đầu tiên ở Đức bị nhiễm coronavirus mới đã đưa ra những kết quả mà dường như nó xác nhận điều mà các chuyên gia y tế công cộng lo ngại: rằng ai đó không có triệu chứng nhiễm trùng với virus, được đặt tên là 2019-nCoV, vẫn có thể truyền nó cho người khác. Điều đó có thể làm cho việc kiểm soát virus khó khăn hơn nhiều.

7. Bộ y tế khuyến cáo người dân cách phòng tránh bệnh Covid-19

Nếu một người bị nhiễm virus và không rửa tay sau khi đi đại tiện và trực tiếp chạm vào thức ăn của người khác bằng tay thì sẽ khiến cho họ bị nhiễm bệnh.

Việc ngăn ngừa lây nhiễm virus Corona qua đường phân hoặc miệng là điều rất quan trọng. Vì vậy việc rửa tay trước khi ăn, sau khi đi đại tiện, không được tùy tiện bốc hay gắp thức ăn cho người khác… là điều mọi người cần chú ý nhất trong lúc này. Bên cạnh đó, mọi người cũng cần phải sử dụng xà phòng diệt khuẩn, nước rửa tay và rửa tay ít nhất trong nước 20 giây.

  • Cần hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người mắc bệnh viêm đường hấp cấp tính nhất là những người nghi nhiễm Covid-19. Khi bắt buộc phải tiếp xúc với người bệnh cần thực hiện các biện pháp ngăn ngừa lây nhiễm như đeo khẩu trang, giữ khoảng cách an toàn, sát khuẩn tay sau khi tiếp xúc.
  • Giữ ấm cơ thể, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, súc họng bằng nước sát khuẩn.
  • Che mũi, miệng khi ho hắt hơi. Nên dùng khăn vải hoặc giấy ăn che miệng nên giảm khả năng phát tán dịch tiết ra môi trường xung quanh.
  • Hạn chế tiếp xúc với động vật hoang dã. Không nên chế biến, ăn thịt động vật hoang dã…

Tài liệu tham khảo

https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(20)30313-5/fulltext

https://www.thelancet.com/journals/langas/article/PIIS2468-1253(20)30048-0/fulltext

https://www.vox.com/2020/2/20/21143785/coronavirus-covid-19-spread-transmission-how

http://weekly.chinacdc.cn/en/article/id/ffa97a96-db2a-4715-9dfb-ef662660e89d

https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMc2001468

BS Thanh Mai

Bài viết Virus Corona lây lan như thế nào? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/virus-corona-lay-lan-nhu-the-nao/feed/ 0
8 thói quen dễ gây lây nhiễm bệnh COVID-19 https://vanquocduocvuong.vn/8-thoi-quen-de-gay-lay-nhiem-benh-covid-19/ https://vanquocduocvuong.vn/8-thoi-quen-de-gay-lay-nhiem-benh-covid-19/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:45 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/8-thoi-quen-de-gay-lay-nhiem-benh-covid-19/ Theo số liệu mới nhất công bố ngày 8/3 thế giới có 107.104 người mắc, 3.649 người tử vong vì COVID-19. Tại Việt Nam tính đến 17h ngày 8/3 có 30 trường hợp nhiễm COVID-19, trong đó có 16 ca đã điều trị khỏi và xuất viện. Đây thực sự là một trong các dịch bệnh có tốc độ [...]

Bài viết 8 thói quen dễ gây lây nhiễm bệnh COVID-19 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Theo số liệu mới nhất công bố ngày 8/3 thế giới có 107.104 người mắc, 3.649 người tử vong vì COVID-19. Tại Việt Nam tính đến 17h ngày 8/3 có 30 trường hợp nhiễm COVID-19, trong đó có 16 ca đã điều trị khỏi và xuất viện. Đây thực sự là một trong các dịch bệnh có tốc độ lan truyền nhanh và diễn biến phức tạp.

Theo nhiều báo cáo thống kê dịch tễ về đường lây truyền của bệnh COVID -19 các nhà nghiên cứu nhận thấy nhiều thói quen sinh hoạt của con người có thể là nguy cơ cao gây lan truyền bệnh trong cộng đồng. Bài viết dưới đây thống kê một số thói quen gây lây nhiễm virus corona mới đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra biện pháp phòng tránh bệnh COVID -19 hiệu quả.

1. Không rửa tay đúng cách và thường xuyên

Với đa phần các bệnh truyền nhiễm thì vệ sinh bàn tay là một trong các biện pháp phòng bệnh khá hiệu quả. Cũng giống như nhiều loại virus khác, virus corona mới cũng thông qua bề mặt da tay và tiếp xúc với niêm mạc mắt, miệng và nhiễm bệnh. Bàn tay cũng là 1 bộ phận tham gia vào nhiều hoạt động của cơ thể nhất là các hoạt động liên quan đến giao lưu giữa người với người. Đặc biệt những người tham gia công việc nội trợ, đầu bếp… nếu bàn tay không được đảm bảo vệ sinh thì khả năng lây nhiễm bệnh cho người khác là rất cao.

Theo khuyến cáo của các tổ chức y tế trên thế giới, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, nước sạch hoặc các dung dịch sát khuẩn giúp hạn chế tình trạng lây lan dịch bệnh. Để bảo vệ đôi tay trong các đợt dịch bệnh, mọi người cần

  • Rửa tay đúng cách, thường xuyên
  • Hạn chế cầm nắm trực tiếp vào các vật dụng chung như tay nắm cửa… Nếu phải sử dụng những vật dụng chung nên lót giấy sạch hoặc đeo găng tay dùng 1 lần.
  • Vệ sinh tay trước khi chế biến thực phẩm, sau khi đi vệ sinh, sau khi di chuyển từ ngoài về.
  • Nên sử dụng xà phòng để rửa tay. Cọ kỹ nhất là phần móng tay ít nhất 20 giây trước khi rửa lại bằng nước sạch và lau khô.

2. Không che mũi và miệng khi hắt hơi

2019-nCoV là virus gây bệnh đường hô hấp. Vì vậy việc phòng tránh bệnh cũng chủ yếu là ngăn virus xâm nhập đường hô hấp. Trước nay mặc dù nhiều dịch bệnh đường hô hấp đã xảy ra như SARS, cúm A… nhưng vẫn nhiều người chưa có thói quen đeo khẩu trang. Một thói quen khác là khi ho, hắt hơi không che mũi miệng.

Hắt hơi là một phản xạ bảo vệ cơ thể bằng cách làm sạch mũi bằng một lực đẩy lớn. Kết quả của phản xạ hắt hơi là không khí cùng nước bọt, chất nhầy.. bị đẩy ra khỏi miệng và mũi đồng thời mang theo hàng ngàn vi trùng phát tán vào không khí. Nhiều nghiên cứu lượng giá mỗi lần hắt hơi bạn đã “thải: vào không khí khaongr 100.000 con vi trùng và đây là nguyên nhân lây lan nhiều bệnh tật.

Theo các báo cáo dịch tễ thì virus corona mới có thể theo giọt nước hắt hơi phát tán vào không trung hoặc bám trên các bề mặt đồ vật xung quanh. Để bảo vệ bạn và những người xung quanh khi hắt hơi bạn nên che mũi miệng bằng khăn giấy. Nếu không có khăn giấy thì có thể nhanh chóng hắt hơi vào tay áo thay vì hắt hơi vào bàn tay. Ngay sau khi hắt hơi nên rửa tay bằng xà phòng và nước trước khi chạm vào các bề mặt khác. Trong khi di chuyển trên đường bạn nên sử dụng khẩu trang để đề phòng các trường hợp hắt hơi đột xuất. Ngoài tác dụng ngăn không cho virus nCoV lây truyền thì việc che miệng mũi khi hắt hơi cũng thể hiện sự lịch thiệp trong giao tiếp với những người xung quanh.

3. Vứt khăn giấy, khẩu trang đã qua sử dụng không đúng nơi quy định

Vứt khẩu trang đã qua sử dụng bừa bãi khó thúc đẩy lây lan dịch bệnh ra cộng đồng
Vứt khẩu trang đã qua sử dụng bừa bãi khó thúc đẩy lây lan dịch bệnh ra cộng đồng

Việc sử dụng khăn giấy và khẩu trang nhưng lại không vứt vào thùng rác hoặc các nơi quy định cũng tiềm ẩn nguy cơ lây lan dịch bệnh ra cộng đồng.

Chúng ta cần hiểu rằng không chỉ virus corona mà tất cả các loại vi trùng từ vi khuẩn, virus, nấm… từ người bệnh, sau khi ho hoặc hắt xì hơi lúc bịt khẩu trang sẽ bám dính trên bề mặt khẩu trang. Khi khẩu trang bị vứt bừa bãi lượng vi trùng này có thể phân tán ra môi trường, bám vào các bề mặt vật dụng khác. Virus corona có thể tồn tại 3-5 ngày ở nhiệt độ khoảng 20ºC vì thế việc kiểm soát tốt khẩu trang đã qua sử dụng là một trong các biện pháp hiệu quả phòng tránh dịch bệnh lây lan.

Theo Bộ Y tế khuyến cáo người dân không nên sử dụng lại khẩu trang (khẩu trang 1 lần, khẩu trang vải nên giặt sạch bằng xà phòng trước khi tái sử dụng), không dùng tay chạm vào bề mặt khẩu trang. Sau khi sử dụng xong nên bỏ khẩu trang vào đúng nơi quy định có thùng rác đậy nắp. Đối với những công nhân làm công tác vệ sinh môi trường, thường xuyên tiếp xúc với rác thải trong đó có khẩu trang y tế đã qua sử dụng cần trang bị cẩn thận đồ bảo hộ khi làm việc, nhất là khẩu trang và găng tay.

4. Khạc nhổ bừa bãi

Cũng giống như hắt hơi, việc khạc nhổ bừa bãi cũng là một trong các hành vi phát tán vi trùng ra môi trường xung quanh.

Khạc nhổ thường được xem là một hành động của sự tức giận và thiếu tôn trọng người xung quanh tuy nhiên đôi khi nó chỉ đơn giản là một thói quen của nhiều người. Trong quá khứ hành vi khạc nhổ là một thói quen được xã hội chấp nhận ở châu Âu, nhưng đến thế kỷ 19, cách cư xử đã thay đổi. Điều này trùng hợp với nhận thức lớn hơn về việc truyền các bệnh truyền nhiễm có thể lây lan thông qua hành vi khạc nhổ bừa bãi.

Rất nhiều các chiến dịch y tế công cộng đã được triển khai để chống lại hành vi này. Một dẫn chứng cụ thể là trong những năm 1940, khi bệnh lao (TB) lan rộng, người ta thường thấy các dấu hiệu “khạc nhổ” trên xe buýt. Với dịch bệnh COVID – 19 hành vi này càng nên được thay đổi.

Đối với những người vô tình đứng cạnh hoặc ở gần người khạc nhổ bừa bãi thì bạn nên

  • Ngay lập tức rửa sạch tay, mặt… (những phần cơ thể mà bạn nghi ngờ rằng giọt nước bọt có thể bắn vào) bằng xà phòng và nhiều nước sạch.
  • Nếu nước bọt bắn vào mắt, mũi hoặc miệng, hãy rửa sạch bằng nhiều nước sạch, nhỏ mũi và mắt bằng nước muối sinh lý, súc họng.
  • Nếu bạn nghĩ rằng bạn có nguy cơ bị nhiễm bệnh, hãy đến ngay cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra sức khỏe.

5. Không xả nước sau khi đi vệ sinh

Nói ra có thể nhiều người phản bác rằng thời hiện đại làm gì còn ai sau khi đi vệ sinh không xả nước. Tuy nhiên có một thực tế đáng buồn vẫn đang diễn ra ở nhiều nhà vệ sinh công cộng. Bất kể chất thải nào cũng chứa hàng ngàn mầm bệnh vì vậy nhà vệ sinh nhất là nhà vệ sinh công cộng cần được giữ sạch sẽ. Muốn làm được điều này thì cần sự tham gia của tất cả mọi người.

Đặc biệt đối với chị em phụ nữ, cần bọc gói cẩn thận các sản phẩm vệ sinh phụ nữ trước khi vứt vào thùng rác.

6. Tiếp xúc hoặc tiêu thụ một số loài động vật có nguy cơ mang virus corona mới.

Khá nhiều các điều tra dịch tễ trước đây về các loại virus corona khác nhận thấy virus SARS-CoV lây từ cầy hương sang người còn virus MERS-CoV lây từ lạc đà. Phần lớn các loại coronavirus khác vẫn lưu hành ở động vật nhưng chưa lây sang người.

Mặc dù chưa có khẳng định nào được đưa ra liên quan đến nguồn động vật hoang dã cũng như vật chủ trung gian truyền 2019-nCoV sang người nhưng nhiều nghiên cứu ban đầu cho thấy dơi có thể là nguồn nguyên thủy của virus này.

Thêm nữa ngay sau khi dịch COVID-19 bùng phát thì các nhà chức trách Trung Quốc đã cho đóng cửa khu chợ chuyên buôn bán hải sản và động vật sống ở Vũ Hán. Mới đây nhất các nhà khoa học cũng đưa ra khuyến cáo liên quan cho rằng có thể tê tê là động vật hoang dã có thể có liên quan đến 2019-nCoV. Thịt tê tê và vảy tê tê được dùng khá nhiều trong ẩm thực cũng như lĩnh vực đông dược.

Khi mọi thứ còn chưa ngã ngũ và chưa được công bố chính thức, mọi người dân nên chủ động hạn chế tiếp xúc với các động vật hoang dã, không ăn đồ sống chưa qua nấu chín. Cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc an toàn vệ sinh thực phẩm. Cần đậy kín thức ăn tránh các loài vật nuôi trong cơ thể tiếp xúc với thức ăn bởi chúng có thể đã tiếp xúc với các bề mặt chứa virus trước đó.

Bên cạnh đó cũng nên hạn chế tiêu thụ các loại thực phẩm bắt nguồn từ động vật hoang dã.

7. Ôm hôn, ăn chung, ngủ chung với vật nuôi trong gia đình.

Nên thay đổi thói quen ôm ấp vật nuôi để bảo vệ bản thân trước dịch bệnh COVID - 19
Nên thay đổi thói quen ôm ấp vật nuôi để bảo vệ bản thân trước dịch bệnh COVID – 19

Rất nhiều bạn trẻ có thói quen cưng nựng các loài vật nuôi như chó, mèo… Trước đây hành động đó có thể là sự thể hiện tình yêu thương tuy nhiên trong giai đoạn hết sức nhạy cảm của dịch bệnh chúng ta nên tiết chế hoặc tốt nhất là không thực hiện các hành động âu yếm này với thú cưng. Thật khó để kiểm soát được rằng các “Boss” đã đi những đâu, làm những gì, và tiếp xúc với những bề mặt nào. Việc 2019-nCoV có thể tồn tại 3-5 ngày trên các bề mặt vật dụng là một trong các nguy cơ khiến các loài vật nuôi trong gia đình có thể mang theo virus lây truyền sang cho bạn.

8. Không vệ sinh sạch sẽ các vật dụng sử dụng thường xuyên như điện thoại, máy tính, tay nắm cửa… 

Nếu nói thứ gì bẩn nhất trong các vật dụng bạn sử dụng hằng ngày thì đó có thể là điện thoại. Nhiều người có thói quen sử dụng điện thoại cả trong nhà vệ sinh. Bàn tay bạn có thể chạm vào vô số các bề mặt bẩn và ngay sau đó cầm vào điện thoại. Nhiều nghiên cứu cho thấy lượng vi trùng trên điện thoại thậm chí cao gấp nhiều lần bồn cầu vệ sinh thì bạn sẽ hiểu vì sao cần vệ sinh điện thoại thường xuyên hơn.

Tương tự như điện thoại thì máy tính cũng là vật dụng ẩn chứa nhiều vi trùng nhất là bàn phím máy tính tại các quán net. Bên cạnh điện thoại và máy tính thì các vật dụng sử dụng thường xuyên cũng nên được vệ sinh sạch sẽ thường xuyên hơn.

Để bảo vệ bản thân khỏi dịch bệnh COVID-19 tất cả mọi người nên bắt đầu thay đổi những thói quen dễ gây lây nhiễm virus corona nói chung đặc biệt là 2019-nCoV.

BS Uông Mai

Bài viết 8 thói quen dễ gây lây nhiễm bệnh COVID-19 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/8-thoi-quen-de-gay-lay-nhiem-benh-covid-19/feed/ 0