Vị Sài Hồ này là vị thuốc chủ chốt của kinh Thiếu dương. Trong các “Kim phương” (các bài thuốc kinh điển của Trương Trọng Cảnh), Sài Hồ được dùng rất nhiều, tiêu biểu như Tiểu Sài Hồ thang hay Đại Sài Hồ thang. Trương Trọng Cảnh coi đây là vị thuốc thuộc về Bán biểu bán lý (nửa ngoài nửa trong).
Lấy ví dụ: Vị (dạ dày) thuộc Lý, da lông thuộc Biểu. Mối quan hệ tương tác giữa Biểu và Lý, phần nằm ở giữa chính là Bán biểu bán lý. Trong Kim phương, chúng ta thường dùng Sài Hồ để Sơ Can.
Quan niệm về Sơ Can
Chúng ta coi Can thuộc Mộc. Đặc tính của Mộc là phải được sơ thông. Cây cối không được để uất ức quá mức; nếu cành lá mọc quá rậm rạp, quả sẽ dày đặc nhưng không ăn được. Lúc đó phải tỉa bớt cành lá để ánh nắng và không khí lọt vào, cây mới phát triển tốt. Can Mộc cũng vậy, phải thường xuyên được sơ thông, đó là lý do Sài Hồ là vị thuốc chính để trị bệnh về Can.
Sài Hồ có vị Khổ (đắng). Vị đắng có thể tả, có thể táo, có thể kiên (làm bền chắc).
Liều lượng sử dụng
Về liều lượng, bạn không cần phải máy móc như Tây y (vốn phải tính toán cực kỳ chính xác vì thuốc của họ có độc tính cao như thuốc gây mê). Sài Hồ đi vào hệ thống Tam tiêu và hạch bạch huyết.
- Với người lớn thể trạng trung bình: Thường dùng 3 tiền (khoảng 12g).
- Với trẻ nhỏ: Dùng 1 tiền (khoảng 4g).
- Thanh thiếu niên: Dùng 2 tiền (khoảng 8g).
Liều lượng linh hoạt tùy theo thể trọng và quan sát trực tiếp người bệnh.
Chỉ định lâm sàng
Triệu chứng đặc trưng nhất để dùng Sài Hồ là Vãng lai hàn nhiệt (lúc sốt lúc rét). Khi bệnh nhân kẹt giữa Bán biểu bán lý, họ sẽ có hiện tượng lúc nóng lúc lạnh luân phiên.
Tất cả các bệnh về Gan (Bệnh gan B, C, xơ gan, ung thư gan), các vấn đề về Mật, Tỳ tạng, Tụy tạng đều cần cân nhắc sử dụng Sài Hồ. Nó cũng là vị thuốc không thể thiếu trong điều trị sỏi mật.
Công năng chính
Phát biểu thanh nhiệt, tán nhiệt tà ở Tam tiêu và Can Đởm.
- Trị các chứng: Miệng đắng, tai điếc, chóng mặt, đau đầu (đặc biệt là đau nửa đầu thuộc kinh Thiếu dương).
- Trị chứng Cốt chưng lao nhiệt: Đây là tình trạng người bệnh gầy yếu, ăn bao nhiêu cũng không béo, thể lực kém do lao lực hoặc di chứng sau hóa trị ung thư. Trong xương vốn có tủy và “Dương” tàng giữ bên trong. Khi Dương khí này thoát ra ngoài, người bệnh sẽ cảm nhận thấy “nóng từ trong xương nóng ra”. Đây gọi là Cốt chưng. Sài Hồ là bắt buộc cho chứng Cốt chưng kèm đau nhức cơ khớp, mạch đại. Đặc biệt, nếu nhiệt ở xương quá nặng, dùng Ngân Sài Hồ sẽ hiệu quả hơn Sài Hồ thường.
- Trị Hung hiếp khổ mãn: Cảm giác đầy tức, khó chịu vùng ngực sườn (khu vực trung tiêu, nơi có gan mật).
Phân biệt triệu chứng để dùng thuốc
Cần phân biệt rõ:
- Nếu chỉ có “vãng lai hàn nhiệt”, có thể dùng Quế Chi Ma Hoàng Các Bán Thang.
- Nhưng nếu có kèm buồn nôn và đầy tức hông sườn, thì nhất định phải dùng Sài Hồ.
Nguyên tắc trị liệu (Hư và Thực)
Đông y không trị bệnh một cách đơn độc.
- Với chứng Hư nhiệt: Không có vị thuốc nào duy nhất trị được hư nhiệt. Chúng ta phải dùng thuốc Bổ hư kết hợp với thuốc Tả nhiệt. Khi hư được bù đắp và nhiệt được bài trừ thì bệnh mới khỏi.
- Với chứng Thực nhiệt: Ví dụ dùng Hoàng Cầm, Hoàng Liên để thanh nhiệt, phối hợp với Đại Hoàng để tẩy sạch thực tích (phần “thực”). Sự kết hợp này mới giải quyết được tận gốc “Thực nhiệt”.
Ứng dụng phối ngũ trong bệnh Gan mật
Khi có đau hông sườn (đa phần do Can khí vượng), ta dùng bài Tiểu Sài Hồ Thang làm gốc, sau đó gia giảm:
- Đau sườn trái (thuộc về Huyết): Gia thêm Thanh bì, Xuyên khung, Bạch thược để hoạt huyết hành khí.
- Đau sườn phải (thuộc về Thực/Mật): Phía bên phải là vị trí của túi mật, liên quan đến tiêu hóa. Thường do thực tích hoặc đờm ẩm. Ta dùng Sài Hồ để sơ can giải uất, phối hợp thuốc tiêu thực hóa đờm.
Sài Hồ là vị thuốc cực kỳ quan trọng và được sử dụng với tần suất rất cao trong điều trị các bệnh lý về Gan và Đởm.






