Kiến thức chung Y học cổ truyền - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/category/dong-y/kien-thuc-chung-y-hoc-co-truyen/ Wed, 30 Oct 2024 04:29:54 +0000 vi hourly 1 https://vanquocduocvuong.vn/wp-content/uploads/2022/07/cropped-logo-vanquocduocvuong.png Kiến thức chung Y học cổ truyền - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/category/dong-y/kien-thuc-chung-y-hoc-co-truyen/ 32 32 Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/ https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/#respond Thu, 24 Oct 2024 08:21:45 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3196 Mất ngủ là một bệnh rối loạn giấc ngủ có tỷ lệ mắc khá cao trong những năm gần đây. Khi thăm khám, bệnh nhân thường than phiền về các triệu chứng như khó ngủ, thức dậy quá sớm hoặc tỉnh giấc giữa chừng, đồng thời kèm theo các biểu hiện như tâm trạng không [...]

Bài viết Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Mất ngủ là một bệnh rối loạn giấc ngủ có tỷ lệ mắc khá cao trong những năm gần đây. Khi thăm khám, bệnh nhân thường than phiền về các triệu chứng như khó ngủ, thức dậy quá sớm hoặc tỉnh giấc giữa chừng, đồng thời kèm theo các biểu hiện như tâm trạng không tốt, mệt mỏi, và khó tập trung. Những triệu chứng này có thể gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến công việc, cuộc sống và giao tiếp xã hội của bệnh nhân.

Trong y học hiện đại, các loại thuốc an thần và gây ngủ thường được sử dụng để giảm bớt triệu chứng mất ngủ, tuy có hiệu quả nhất định, nhưng việc sử dụng lâu dài có thể dẫn đến tình trạng phụ thuộc thuốc, và những loại thuốc này cũng có tác dụng phụ nhất định. Vì vậy, cần lựa chọn phương án điều trị thích hợp. Y học cổ truyền có lịch sử lâu đời và có nhiều ưu thế trong việc điều trị chứng mất ngủ, đã đạt được hiệu quả điều trị rõ rệt. Bài viết này sẽ trình bày về việc điều trị chứng mất ngủ bằng y học cổ truyền.

1. Biểu hiện của chứng mất ngủ

Chứng mất ngủ bao gồm các triệu chứng như khó vào giấc, tỉnh giấc giữa đêm, hoặc không thể ngủ suốt đêm.

Chất lượng giấc ngủ kém có thể khiến người bệnh dễ cáu gắt, khó chịu, và thậm chí gây ra các triệu chứng như hồi hộp, tim đập nhanh. Nếu mất ngủ kéo dài, nó có thể làm suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể và tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác.

Theo 1 nghiên cứu của Trường Y khoa Đại học Pittsburgh năm 2008 thì phần lớn những người bị trầm cảm đều bị rối loạn giấc ngủ. Trầm cảm cũng chiếm tỷ lệ cao trong số những nhóm người mắc nhiều loại rối loạn giấc ngủ.

2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của mất ngủ

Trong các tài liệu cổ điển, mất ngủ được xếp vào các phạm trù như “bất mị”, “bất đắc ngoạ”, “mục bất minh”, “thất miên” và y học cổ truyền cho rằng căn nguyên bệnh lý cơ bản của căn bệnh này là do sự mất cân bằng âm dương.

Y học cổ truyền đã có hiểu biết từ lâu về chứng mất ngủ. Trong cuốn Kim Quỹ Yếu Lược có ghi rằng “hư phiền bất đắc miên” (tức khó ngủ do tâm phiền), và các tác phẩm như Y Lâm Cải ThácCảnh Nhạc Toàn Thư cũng đều đề cập đến chứng bất mị. Khi phân tích từ góc độ “tà chính”, nguyên nhân của chứng mất ngủ khá phức tạp, bao gồm mất cân bằng âm dương và tâm thần bị xáo trộn. Có một số nguyên nhân chính sau:

2.1. Mất điều hòa dinh vệ (dinh vệ thất điều)

Y học cổ truyền cho rằng, khí dinh vệ có công dụng bồi bổ và nuôi dưỡng cơ thể, có mối liên hệ mật thiết với khí huyết, tạng phủ và tân dịch. Dinh khí chủ yếu là phần âm của tinh khí, còn phần dương được gọi là “vệ khí”. Khi dinh vệ mất điều hòa, sẽ dẫn đến khí huyết khuy hư, chức năng tạng phủ mất cân bằng, và tâm thần bất an, từ đó gây ra các triệu chứng mất ngủ. Trong Hoàng Đế Nội Kinh cũng có đề cập đến mối quan hệ giữa mất điều hòa dinh vệ và chứng mất ngủ.

2.2. Mất cân bằng chức năng tạng phủ

Sự xuất hiện của chứng mất ngủ có liên quan chặt chẽ đến sự mất cân bằng chức năng của các tạng như tâm, can, tỳ, thận. Các yếu tố như áp lực tinh thần và áp lực công việc ảnh hưởng lớn đến chức năng tạng phủ.

  • Khi tâm bất an, vì tâm chủ thần chí, sẽ gây ra chứng mất ngủ.
  • Thận chủ về thủy và là cơ quan quan trọng trong quá trình trao đổi chất, có vai trò cân bằng âm dương, nếu thận hư sẽ phá vỡ sự cân bằng này và gây ra mất ngủ.
  • Can chủ về sự thư giãn, nếu chức năng can suy yếu sẽ gây ứ trệ can khí, kết hợp với trạng thái tình chí bất ổn sẽ dẫn đến khó ngủ về đêm.
  • Tỳ sinh huyết, nếu tỳ tổn thương sẽ làm tiêu hao tâm huyết, gây mất cân bằng khí huyết, tâm thần bất an và dẫn đến mất ngủ. Nếu ăn uống không điều độ, sẽ gây tích tụ đàm nhiệt trong dạ dày, quá trình tiêu hóa bị cản trở, khí cơ ứ trệ, và dẫn đến triệu chứng mất ngủ.

2.3. Mất cân bằng âm dương

Mất cân bằng âm dương được coi là cơ chế bệnh lý chung của chứng mất ngủ. Sự điều hòa âm dương của cơ thể phù hợp với quy luật thay đổi của tự nhiên, và điều này ảnh hưởng đến giấc ngủ của con người. Giấc ngủ khỏe mạnh phụ thuộc vào sự vận hành tự nhiên của âm dương trong cơ thể dưới sự kiểm soát của tâm thần. Nếu âm dương mất cân bằng, sẽ gây tác động tiêu cực đến giấc ngủ.

2.4. Tà khí xâm nhập

Tà khí xâm nhập có thể gây ra sự mất cân bằng âm dương trong cơ thể, làm cho tâm hư thất dưỡng gây ra chứng mất ngủ. Tà khí cũng có thể làm rối loạn chức năng của ngũ tạng, gây mất cân bằng trong cơ thể, và là một trong những cơ chế bệnh lý quan trọng gây ra chứng mất ngủ. Trong Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận có ghi rằng: “Tà khí xâm nhập tạng phủ… âm khí hư, mắt không nhắm được”, chỉ rõ rằng tà khí xâm nhập cơ thể là nguyên nhân chính gây ra chứng bất mị.

3. Điều trị bằng thuốc

Theo y học cổ truyền, tâm chủ huyết mạch, khi khí huyết đủ đầy thì tâm thần an định, do đó trong điều trị thường sử dụng các loại thuốc bổ tâm huyết và an thần.

Toan táo nhân thang

Bài thuốc Toan táo nhân thang có xuất xứ từ Kim quỹ yếu lược, được bào chế từ các vị thuốc như phục linh, tri mẫu, toan táo nhân, cam thảo, xuyên khung… có tác dụng trừ phiền an thần. Nghiên cứu của Tôn Khả Đình và cộng sự chỉ ra rằng, khi kết hợp Toan Táo Nhân Thang với thuốc tây Escitalopram, với các vị bổ sung như chi tử, thiền thoái, và đạm đậu xị, nếu bệnh nhân gặp các triệu chứng như chóng mặt, nhiều mộng mị, dễ tỉnh giấc, thì thêm các vị thuốc như trân châu mẫu, đan sâm. Sử dụng một liều mỗi ngày, uống sáng và tối liên tục trong 2 tháng, hiệu quả điều trị đạt 93.33%, cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ sử dụng thuốc tây (P < 0.05). Toan táo nhân thang có tác dụng bổ khí huyết, bổ thận âm, an thần tĩnh tâm, và khi kết hợp với các vị thuốc như chi tử, thiền thoái, đạm đậu xị, có thể tăng cường tác dụng thư can dưỡng huyết, ích khí an thần, giúp giảm các triệu chứng mất ngủ do can khí uất kết.

Cam mạch đại táo thang

Bài thuốc Cam mạch đại táo thang cũng xuất xứ từ Kim quỹ yếu lược, là phương thuốc đại diện trong điều trị chứng tạng táo ở phụ nữ, có tác dụng dưỡng tâm an thần, điều hòa khí cơ, và có hiệu quả trong việc điều trị chứng mất ngủ do can khí uất kết, tâm thần bất an ở phụ nữ. Thành phần bài thuốc gồm cam thảo, phù tiểu mạch (lúa mì), và đại táo, có thể gia giảm theo triệu chứng. Nếu bệnh nhân bị âm hư hỏa vượng, có thể thêm hoàng liên và a giao, nếu có triệu chứng phiền não thì thêm sài hồ và chi tử. Trong Linh khu – Ngũ vị thiên có đề cập: “Bệnh tim, nên ăn mạch”, do lúa mì giàu vitamin nhóm B, tác động tích cực đến hệ thần kinh và hệ nội tiết của cơ thể, giúp làm dịu các triệu chứng lo âu và trầm cảm kèm theo chứng mất ngủ. Theo dược lý hiện đại, lúa mì có tác dụng chống mệt mỏi, an thần, giảm đau và tăng cường miễn dịch; cam thảo bổ dưỡng tâm khí, đại táo bổ khí, hòa giải, dưỡng ẩm và làm dịu. Nghiên cứu dược lý hiện đại cũng chỉ ra rằng, cam thảo có tác dụng chống loạn nhịp tim, đại táo giúp hạ huyết áp, chống mệt mỏi, toàn bộ bài thuốc có tính bình hòa, bổ tâm, điều can và kiện tỳ, mang lại hiệu quả điều trị tốt cho bệnh nhân mất ngủ, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh.

Bán hạ tả tâm thang

Bài thuốc Bán hạ tả tâm thang xuất xứ từ Thương hàn luận, cho rằng chứng mất ngủ có liên quan mật thiết đến tỳ vị, do đó bài thuốc này được dùng để điều trị chứng mất ngủ do tỳ vị bất hòa. Thành phần chính gồm hoàng cầm, bán hạ, can khương, hoàng liên, và đại táo, có tác dụng điều hòa khí cơ tỳ vị.

  • Bán hạ là quân dược, có tác dụng hóa thấp giáng nghịch, chỉ nôn, tiêu ứ kết, được sử dụng từ lâu trong điều trị mất ngủ. Nghiên cứu dược lý hiện đại cũng chứng minh rằng bán hạ có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, giúp an thần và gây ngủ.
  • Khi kết hợp với can khương, bài thuốc có tác dụng ôn trung tán hàn, chỉ thống.
  • Hoàng cầm và hoàng liên điều hòa âm dương, giúp cân bằng khí cơ, kết hợp với nhân sâm và đại táo để bổ trung ích khí, cam thảo giúp giảm bớt tính nóng của thuốc, từ đó đạt được hiệu quả điều trị mất ngủ.

Hoàng liên a giao thang

Trong Thương hàn luận có đề cập rằng: “Thiếu âm bệnh, mắc từ hai đến ba ngày trở lên, tâm phiền, không ngủ được, dùng Hoàng liên a giao thang chủ trị”, đoạn văn này chủ yếu áp dụng cho những bệnh nhân mất ngủ có cơ chế bệnh lý chính là “thận âm suy hư, tâm hỏa vượng“.

Bài thuốc gồm 5 vị thuốc: hoàng liên, hoàng cầm, a giao, thược dược và lòng đỏ trứng gà. Hoàng liên có tác dụng tả tâm hỏa mạnh mẽ, thược dược bổ âm và bổ huyết, giúp hạ nhiệt và trừ phiền, a giao dưỡng âm dịch, hoàng cầm tăng cường hiệu quả thanh hỏa của hoàng liên, lòng đỏ trứng gà dưỡng thận âm và hạ tâm hỏa.

Nghiên cứu công bố năm 2021 cho thấy, khi điều trị bệnh nhân tiểu đường kết hợp mất ngủ bằng Hoàng Liên A Giao Thang gia giảm, thêm toan táo nhân, long nhãn, bá tử nhân để tư âm thanh nhiệt, dưỡng tâm an thần, đã giúp giảm điểm số chất lượng giấc ngủ PSQI so với nhóm đối chứng một cách rõ rệt (P < 0.05). Điều này cho thấy bài thuốc có hiệu quả trong điều trị mất ngủ và được bệnh nhân công nhận.

Sài hồ long cốt mẫu lệ thang

Sài hồ long cốt mẫu lệ thang là phương thuốc kinh điển từ Thương hàn luận, thường dùng để điều trị chứng thiếu dương bệnh kèm tâm đởm bất an. Thành phần chính bao gồm tiểu sài hồ thang, cam thảo, long cốt, mẫu lệ, và phục linh. Tiểu sài hồ thang có công dụng hòa giải thiếu dương, phù chính khứ tà, điều hòa khí cơ. Khi kết hợp với long cốt và mẫu lệ, hai vị thuốc này có tác dụng trọng trấn an thần, long cốt giúp bình can tiềm dương, mẫu lệ làm mềm kết tụ và giải trừ sự uất ức, cả hai đều có tác dụng an thần. Sài hồ giải uất và thư giãn can khí, chữa các triệu chứng ứ trệ khí cơ do can không sơ tiết, gây ra trầm cảm và mất ngủ. Phục linh bổ tâm tỳ và giúp an thần. Các vị thuốc phối hợp có công dụng sơ can giải uất, trọng trấn an thần. Nghiên cứu dược lý hiện đại chỉ ra rằng, thành phần saponin trong sài hồ có tác dụng an thần và ổn định thần kinh.

Một nghiên cứu năm 2020 cho thấy điều trị Sài hồ gia long cốt mẫu lệ đơn lẻ có hiệu quả hơn các loại thuốc thông thường bằng cách giảm PSQI, cải thiện tỷ lệ hiệu quả lâm sàng, kéo dài tổng thời gian ngủ ddoognf thời tỷ lệ tác dụng phụ cũng thấp hơn so với nhóm đối chứng.

Quy tỳ thang

Quy tỳ thang, xuất xứ từ Nghiêm thị tế sinh phương, chủ yếu bao gồm các vị thuốc như cam thảo, long nhãn, toan táo nhân, hoàng kỳ, đại táo, viễn chí và mộc hương… Toàn bài thuốc có tác dụng bổ khí kiện tỳ, an thần, dưỡng huyết và an tâm. Quy tỳ thang tập trung vào việc điều trị tâm tỳ, vì tỳ hư sẽ làm cho khí huyết không đủ, trong khi tỳ vượng sẽ giúp khí huyết được sinh hóa đầy đủ, từ đó có thể giúp giảm nhẹ các triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

XEM THÊM: QUY TỲ THANG

Điều trị không dùng thuốc

4.1. Phương pháp châm cứu

Châm cứu là một kỹ thuật chăm sóc sức khỏe phổ biến trong y học cổ truyền, có tác dụng điều hòa âm dương và thông kinh mạch. Vì mất ngủ liên quan chặt chẽ đến sự mất cân bằng âm dương, nên áp dụng phương pháp này vào điều trị mất ngủ có thể mang lại kết quả tốt.

Phương pháp châm cứu bổ trợ an thần, bắt đầu từ việc điều trị hai tạng tỳ và thận, kết hợp với Đổng thị kỳ huyệt và kỹ thuật đảo mã châm pháp, châm cứu thông thường, chú trọng cả triệu chứng và căn nguyên, vừa bổ vừa tả, khai thông khí cơ và mạch lạc, bổ ích khí huyết. Khi khí huyết cân bằng, mạch lạc thông suốt, ngũ tạng điều hòa thì tâm thần sẽ an định.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho thấy, sau khi điều trị châm cứu, nồng độ oxyhemoglobin trong não của bệnh nhân mất ngủ không do tổn thương thực thể có sự thay đổi, đặc biệt là ở vùng vỏ não trán và đỉnh. Điều này giúp điều chỉnh sự kích hoạt của các vùng não, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ.

4.2. Phương pháp xoa bóp

Xoa bóp là một phương pháp trị liệu không xâm lấn, có độ an toàn cao trong điều trị mất ngủ. Từ những thủ thuật xao bóp đơn giản cho đến các thủ thuật xao bóp đặc biệt như xoa bóp tạng phủ Tân Cô đều hướng tới 1 mục tiêu là khơi thông kinh lạc, điều hòa những rối loạn chức năng tạng phủ tạo ra sự thông suốt trong vận hành khí huyết, cân bằng âm dương qua đó cải thiện chất lượng giấc ngủ.

Một số phương pháp xao bóp như tác động ấn vào hai mạch xung, nhâm, nhấn vào huyệt Thần Khuyết trên mạch nhâm để duy trì hoạt động bình thường của khí cơ trong cơ thể. Sử dụng phương pháp nắm và vuốt trên mạch đốc để điều hòa khí dinh vệ, cuối cùng dùng phương pháp véo và nắn mạch đới để làm mềm các kinh mạch, giúp khí cơ được lưu thông, âm dương tương hỗ, và tâm thần an tĩnh, giúp dễ ngủ.

Bên cạnh đó việc kết hợp liệu pháp xoa bóp bấm huyệt vùng đầu cổ (huyệt Thái Dương, An Miên, Bách Hội…) với thuốc thang bổ khí dưỡng huyết… sẽ giúp trừ tà khí, thư giãn gân cốt, thông kinh lạc, điều hòa khí huyết ở đầu, giúp não bộ được nuôi dưỡng, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

4.3. Phương pháp sử dụng các huyệt ở tai

Phương pháp dán hạt vương bất lưu hành và ấn huyệt tai là một kỹ thuật thường được sử dụng trong điều trị chứng mất ngủ. Phương pháp này có tác dụng điều chỉnh chức năng của các tạng phủ và kinh mạch trong cơ thể, giúp chúng hoạt động bình thường, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ. Theo quan niệm y học cổ truyền, mười hai kinh mạch của cơ thể đều liên kết với tai, vì vậy, việc kích thích các huyệt vị tương ứng trên tai có thể giúp thông kinh mạch. Một số huyệt được lựa chọn như Thần môn, Giao cảm, Tâm huyệt, Can huyệt, Tỳ huyệt. Trong đó

  • Thần môn là huyệt chính điều trị mất ngủ có tác dụng bổ tâm dưỡng huyết, nhu dưỡng tâm thần.
  • Phối với huyệt Giao cảm có tác dụng dưỡng tâm ngưng thần, ích âm thanh nhiệt.
  • Tâm huyệt hoạt huyết hành huyết.
  • Can huyệt sơ can lý khí.
  • Thận huyệt giao thông tâm thận.
  • Tỳ huyệt dưỡng huyết sinh mạch.

Việc sử dụng miếng dán hạt vương bất lưu hành vào các vùng huyệt trên tai có thể tác động đến các dây thần kinh liên quan đến giấc ngủ, đồng thời giúp điều hòa âm dương, điều hòa khí huyết, điều hòa chức năng tạng phủ.

Việc ấn hạt vương bất lưu hành với lực, tần suất khác nhau có thể tạo ra các kích thích khác nhau tương đương với phép bổ tả trong y học cổ truyền. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ấn nhẹ hạt vương bất lưu hành và day chậm kích thích nhẹ nhàng trên các huyệt vùng tai có hiệu quả tốt trong điều trị mất ngủ do tâm tỳ hư.

4.4. Phương pháp cứu ngải

Cứu ngải là một phần quan trọng trong y học cổ truyền, có tác dụng bổ dương, trừ hàn, ôn kinh, và thông kinh mạch.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng châm cứu kết hợp với cứu ngải có tác dụng rõ ràng đối với chứng mất ngủ sau đột quỵ.

Một nghiên cứu của Hình Việt và Khổng Mã Lệ cũng cho thấy khi điều trị cho bệnh nhân sau đột quy, kết hợp châm cứu ngũ tạng du (Tâm du, Phế du, Tỳ du, Thận du, Can du) và cứu ngải huyệt Dũng tuyền sau 4 tuần bệnh nhân đã giảm đáng kể các triệu chứng mất ngủ, mệt mỏi, hồi hộp, mức serotonin 5-HT và dopamine giảm rõ rệt. Cứu ngải huyệt Dũng tuyền giúp cải thiện tuần hoàn máu cục bộ, kích thích sự lưu thông của tâm hỏa, dẫn hỏa quy nguyên và giao thông tâm thận, từ đó cải thiện chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân.

Phương pháp cứu ngải vùng bụng tác động lên mạch Nhâm, một phần kinh thận và kinh vị đi qua. Phương pháp cứu ngải ôn ấm, kết hợp với tác dụng của ngải cứu được truyền qua cơ thể, giúp bổ khí dưỡng huyết, bồi bổ nguyên khí, cân bằng âm dương. Khi kết hợp với châm cứu, phương pháp này có thể nâng cao hiệu quả lâm sàng, giúp giảm triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

Mất ngủ là căn bệnh phổ biến trong quá trình phát triển xã hội hiện nay, không chỉ thường gặp ở người cao tuổi mà tỷ lệ mắc bệnh cũng đang có xu hướng trẻ hóa. Nếu không được chú trọng, mất ngủ có thể gây hại đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Các phương pháp điều trị trong y học hiện đại còn đơn điệu và không nên sử dụng thuốc trong thời gian dài. Y học cổ truyền, như một phương pháp quan trọng, với việc điều trị bằng cách biện chứng luận trị, có thể điều chỉnh chức năng tạng phủ ở nhiều mức độ và đa mục tiêu, từ đó cải thiện tình trạng bệnh. Các phương pháp điều trị bên ngoài như châm cứu, nhĩ châm mang lại cảm giác thoải mái và dễ thực hiện, tạo ra những lợi thế nhất định trong điều trị mất ngủ.

BS Uông Mai tổng hợp

Bài viết Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/feed/ 0
7 điều “tốt nhất” nên làm trong mùa thu để chăm sóc sức khỏe https://vanquocduocvuong.vn/7-dieu-tot-nhat-nen-lam-trong-mua-thu-de-cham-soc-suc-khoe/ https://vanquocduocvuong.vn/7-dieu-tot-nhat-nen-lam-trong-mua-thu-de-cham-soc-suc-khoe/#respond Tue, 08 Oct 2024 07:33:46 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3079 Thu sang trời cao khí mát, thời tiết khô hanh. Lúc này, dưỡng sinh nên tuân theo nguyên tắc “xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm”. Thiên nhân hợp nhất là gốc rễ của đạo dưỡng sinh. Dựa theo sự thay đổi của thời tiết để sinh hoạt cho phù hợp giúp bảo tồn [...]

Bài viết 7 điều “tốt nhất” nên làm trong mùa thu để chăm sóc sức khỏe đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Thu sang trời cao khí mát, thời tiết khô hanh. Lúc này, dưỡng sinh nên tuân theo nguyên tắc “xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm”. Thiên nhân hợp nhất là gốc rễ của đạo dưỡng sinh. Dựa theo sự thay đổi của thời tiết để sinh hoạt cho phù hợp giúp bảo tồn nguyên khí gia tăng sinh lực.

Dưỡng sinh tinh thần

Mùa thu dưỡng sinh tinh thần nên “làm cho tinh thần an tĩnh, nhẹ nhàng với khí thu, thu liễm thần khí, giữ cho khí thu hài hòa, không để tâm trí bị xao lãng, giữ cho phế khí trong sạch”. Tức là giữ một tâm thái bình thường để đối diện với sự thay đổi của tự nhiên.

Mùa thu cỏ úa lá rụng, dễ khiến người ta cảm thấy buồn bã. Do đó, mùa thu thường là mùa dễ xuất hiện trạng thái trầm cảm. Trong ngũ hành mùa thu cũng chủ buồn. Chúng ta không nên bị ảnh hưởng bởi sự tiêu điều của thiên nhiên, mà cần điều chỉnh cảm xúc để giữ cho phế khí được thanh lọc, phù hợp với đặc tính thu liễm của mùa thu. Có thể đi dạo ngoài trời ngắm cảnh mùa thu, hoặc rèn luyện khí công để thu liễm tâm thần; hoặc tắm nắng nhiều hơn để xua tan tâm trạng u ám.

Dưỡng sinh sinh hoạt

Trong “Nội Kinh – Tố Vấn – Tứ khí điều thần đại luận” có nói: “Ba tháng mùa thu, ngủ sớm dậy sớm, cùng thức dậy với gà”. Mùa thu nên ngủ sớm dậy sớm. Ngủ sớm để tuân theo sự tích tụ của âm tinh, dậy sớm để phù hợp với sự khai mở của dương khí. Tốt nhất là ngủ lúc 9 giờ tối và dậy vào khoảng 5-6 giờ sáng để tuân theo quy luật “thu dưỡng”.

Dưỡng sinh vận động

Mùa thu là thời điểm thiên nhiên đang trong giai đoạn thu liễm, âm tinh dương khí cần được thu liễm và nuôi dưỡng bên trong, đây là thời điểm tốt để dưỡng sinh qua vận động.

Người cao tuổi có thể lựa chọn các môn tập như Ngũ cầm hí, Thái cực quyền, Lục tự quyết, Bát đoạn cẩm để điều hòa hơi thở và dưỡng thần.

Người trung niên và thanh niên có thể chạy bộ, chơi bóng, leo núi, bơi lội, giúp kích thích âm dương khí huyết trong cơ thể.

Để đạt được hiệu quả luyện tập tốt, cần chú ý “hoạt động nhưng không kiệt sức”, tập luyện từ từ, phù hợp với sức mình, và lượng vận động nên vừa phải, ra chút mồ hôi là thích hợp.

Dưỡng sinh qua ăn uống.

Mùa thu nên ăn nhiều thực phẩm dưỡng âm, làm ẩm, như mộc nhĩ trắng, mía, lê, ngó sen, rau chân vịt, gà ác, sữa đậu nành, trứng vịt, mật ong, v.v.

“Giảm cay, tăng chua”, có thể ăn nhiều thực phẩm vị chua như táo, lựu, nho, bưởi, chanh, sơn tra, v.v.; hạn chế ăn các thực phẩm vị cay như hành, gừng, tỏi, ớt để bổ khí gan, thu khí phổi.

Rau tốt nhất – ngó sen.

“Cây sen là báu vật, ngó sen mùa thu là bổ nhất”. Vào mùa thu, ngó sen tươi bắt đầu được bán nhiều. Thời tiết khô hanh, ăn ngó sen có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, làm dịu cơn khát, làm dịu tâm và an thần. Ngoài ra, ngó sen tính ôn, có khả năng thu liễm mạch máu, ăn nhiều có thể bổ phổi và dưỡng huyết. Ngó sen tươi không chỉ chứa nhiều carbohydrate, mà còn chứa lượng lớn protein thực vật, các loại vitamin và khoáng chất, cùng với chất xơ phong phú, giúp giảm tình trạng táo bón. Khi ăn ngó sen, kết hợp với mộc nhĩ trắng có thể bổ phổi dưỡng âm, kết hợp với mộc nhĩ đen có thể bổ thận dưỡng âm.

Trái cây tốt nhất – lê.

Mùa thu không khí khô hanh, lượng nước ít. Lê mùa thu tươi ngon, nhiều nước, chứa tới 85% nước, vị chua ngọt dễ ăn, giàu vitamin và các nguyên tố vi lượng như canxi, phốt pho, sắt, i-ốt, v.v., được coi là “nước khoáng thiên nhiên”, từ xưa đã được tôn vinh là “vua của các loại quả”. Nếu mỗi ngày kiên trì ăn một lượng lê vừa đủ, có thể giúp giảm khô hanh mùa thu, sinh tân dịch và dưỡng phổi.

Cách ăn tốt nhất:

  • Ăn lê tươi có thể giúp làm giảm rõ rệt các triệu chứng khô, ngứa, đau họng, khản tiếng cũng như táo bón, tiểu đỏ ở những người bị nhiễm trùng đường hô hấp trên.
  • Nấu hoặc hấp lê, chẳng hạn như lê hấp đường phèn, có thể dưỡng âm, nhuận phổi, giảm ho và làm tan đờm. Món này cũng có tác dụng phòng ngừa và điều trị bệnh gout, thấp khớp và viêm khớp, đồng thời có hiệu quả tốt hơn trong việc điều trị ho do phế nhiệt và đau họng.

Thịt tốt nhất – Thịt vịt.

Mùa thu là thời điểm vịt béo nhất, hơn nữa, vịt là thực phẩm có tính mát, có công dụng dưỡng âm, kiện tỳ vị, lợi tiểu, tiêu sưng, và phòng tránh khô hanh mùa thu.

Trong y học cổ truyền, vịt được coi là “thuốc” và là “thực phẩm bổ dưỡng thượng hạng”. Điều này là do thịt vịt có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng chất béo vừa phải, khoảng 7,5%, cao hơn thịt gà nhưng thấp hơn thịt lợn. Uống canh vịt để bồi bổ, tốt nhất nên kết hợp với thể trạng của mỗi người và kết hợp với các loại thảo dược hoặc thực phẩm.

Những người có thể chất yếu, dễ mắc các bệnh đường hô hấp như ho, cảm lạnh, có thể thêm sơn dược, hạt sen, hoàng kỳ hoặc nhân sâm vào khi hầm canh vịt, liều lượng thường là 30-60 gram.

Phụ nữ dễ bị khô da vào mùa thu có thể thêm bách hợp, ngọc trúc để dưỡng nhan, chăm sóc da.

Gợi ý món canh vịt hầm rong biển: Dùng 500 gram vịt sạch, chặt thành miếng nhỏ, 150 gram rong biển sạch cắt thành miếng vuông. Đun sôi vịt và rong biển trong nước, sau đó vớt bỏ bọt, thêm hành lá băm nhỏ, gừng băm nhỏ, rượu nấu ăn, hoa hồi, hầm lửa nhỏ cho đến khi vịt mềm nhừ, cuối cùng thêm muối, hạt tiêu, bột ngọt để nêm gia vị là xong.

Đồ uống tốt nhất – Trà.

Trà dưỡng sinh củ cải: Loại trà này có thể thanh nhiệt phổi và hóa đờm ẩm, có thể thêm chút muối để tăng hương vị, giúp làm sạch phổi và tiêu viêm. Rửa sạch và thái lát 100 gram củ cải trắng, đun mềm, thêm chút muối để nêm. Sau đó, pha 5 gram trà trong 5 phút rồi đổ vào nước củ cải, uống mỗi ngày 2 lần.

Trà gừng tía tô: 3 gram gừng tươi, 3 gram lá tía tô, gừng thái sợi mỏng, rửa sạch lá tía tô, đun với nước sôi trong 10 phút để uống thay trà. Uống 2 lần mỗi ngày, sáng và chiều. Trà này có tác dụng giải cảm, tán phong hàn, lý khí và bổ dạ dày, phù hợp cho các trường hợp cảm lạnh do gió lạnh, đau đầu, sốt, hoặc các triệu chứng khó chịu ở dạ dày như buồn nôn, nôn, đau dạ dày và chướng bụng. Đây là phương pháp dùng dược liệu thay trà, đơn giản và tiện dụng.

Trà quất hồng: Dùng 3-6 gram quất hồng, 5 gram trà xanh, hãm với nước sôi, sau đó đun cách thủy trong 20 phút. Uống mỗi ngày 1 lần, có thể uống bất kỳ lúc nào, giúp nhuận phổi, tiêu đờm, điều hòa khí và giảm ho. Trà này phù hợp với các triệu chứng ho vào mùa thu có nhiều đờm, đờm đặc và khó chịu khi ho.

Thuốc tốt nhất – “Dưỡng ẩm”.

Nguyên tắc cơ bản của thuốc bổ mùa thu chủ yếu là dưỡng ẩm, kết hợp với bổ khí và huyết. Các dược liệu thường dùng gồm có nhân sâm Tây Dương, sơn dược, khiếm thực, mạch môn, bách hợp, v.v.

Nhân sâm Tây Dương còn gọi là Hoa Kỳ sâm, có tác dụng bổ khí dưỡng âm, dùng thường xuyên không gây nóng trong. Đặc biệt hiệu quả với những người thức khuya, bị hư hỏa.

Sơn dược có hai loại: sơn dược khô và sơn dược tươi, đều có tác dụng bổ tỳ ích thận, đặc biệt phù hợp cho phụ nữ.

Ngoài các loại thuốc trên, vào mùa thu có thể dùng một số thuốc Đông y như sinh mạch ẩm, v.v.

Trang phục tốt nhất – “Thu đông”.

“Bạch lộ không để lộ người, Hàn lộ không để lộ chân”, nghĩa là khi trời trở lạnh dần nên tăng cường quần áo, nhưng không mặc quá nhiều hoặc quá sớm. “Thu đông” có nghĩa là vào mùa thu, nên mặc áo ấm muộn hơn, tiếp xúc với khí lạnh nhiều hơn để tăng cường sức đề kháng của cơ thể.

Thư giãn tốt nhất – Xoa bóp.

Xoa bóp giúp thư giãn cơ thể, và sau đây là một số huyệt vị nên được xoa bóp.

Huyệt thừa tương
Huyệt thừa tương

Thừa tương: Huyệt thừa tương nằm ở chỗ lõm dưới môi dưới. Dùng đầu ngón tay ấn mạnh và xoa bóp, sẽ làm tiết ra dịch nước bọt trong miệng. Bệnh nhân tiểu đường có thể xoa bóp mạnh ở vị trí này khoảng mười lần, cảm giác khát sẽ biến mất.

Huyệt Thần môn
Huyệt Thần môn

Thần môn: Huyệt thần môn nằm ở vùng cổ tay, cạnh rìa bên của gân cơ gấp cổ tay trụ. Dùng ngón tay cái xoa bóp huyệt thần môn 100 vòng, mỗi ngày xoa bóp 2 lần vào buổi sáng và tối. Huyệt thần môn là huyệt của kinh tâm, xoa bóp huyệt này có thể giúp giảm triệu chứng tức ngực, đau tim, phiền muộn, đánh trống ngực, mất ngủ, quên lãng. Hiện nay, nó được sử dụng để điều trị bệnh mạch vành, suy nhược thần kinh, chứng trầm cảm, động kinh, hội chứng mãn kinh.

Thủ tam lý: Huyệt thủ tam lý là huyệt quan trọng của kinh đại tràng, nằm dưới đường gấp khuỷu tay 2 tấc, trên đường nối giữa huyệt dương khê và khúc trì. Dùng tay xoa bóp huyệt này 80-100 vòng, mỗi ngày xoa bóp 2 lần vào buổi sáng và tối. Xoa bóp huyệt này có thể làm nhuận hóa tỳ táo, kích thích khí tỳ, điều hòa tiêu hóa, giúp giảm các triệu chứng đau bụng, tiêu chảy, đồng thời cũng có tác dụng điều trị các chứng đau tay, cứng khuỷu tay, đau răng, sưng má. Thường được sử dụng để điều trị bệnh dạ dày ruột, di chứng sau đột quỵ và viêm quanh khớp vai.

Huyệt Thủ tam lý và huyệt Khúc trì
Huyệt Thủ tam lý và huyệt Khúc trì

Khúc trì: Huyệt khúc trì nằm ở cuối đường gấp khuỷu tay, khi gập khuỷu tay, nằm giữa đường nối giữa huyệt xích trạch và mỏm ngoài của xương cánh tay. Dùng tay xoa bóp huyệt này 80-100 vòng, mỗi ngày xoa bóp 2 lần vào buổi sáng và tối. Xoa bóp huyệt khúc trì có tác dụng điều trị các bệnh do nhiệt, đau đầu, chóng mặt, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, liệt tay, cũng có tác dụng trong việc điều trị bệnh mạch vành, ngoại tâm thu, đồng thời giúp tăng lưu lượng máu não, giảm kháng lực mạch máu não.

Ngoài ra, mỗi sáng khi thức dậy và trước khi đi ngủ, có thể thực hiện động tác hàm trên hàm dưới. Ngậm miệng lại, dùng lưỡi chạm vào hàm trên, nhai 100 lần cho đến khi miệng đầy dịch nhờn, sau đó từ từ nuốt xuống. Khi nhai, lượng máu chảy về dạ dày ruột tăng lên, có thể chống lại tác động của khí lạnh mùa thu đối với dạ dày ruột.

BS Uông Mai tổng hợp và lược dịch

Bài viết 7 điều “tốt nhất” nên làm trong mùa thu để chăm sóc sức khỏe đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/7-dieu-tot-nhat-nen-lam-trong-mua-thu-de-cham-soc-suc-khoe/feed/ 0
Mùa thu nên ăn gì? làm gì? https://vanquocduocvuong.vn/mua-thu-nen-an-gi-lam-gi/ https://vanquocduocvuong.vn/mua-thu-nen-an-gi-lam-gi/#respond Fri, 04 Oct 2024 01:00:26 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3083 Tiết Bạch lộ vừa qua, cái nóng mùa hè tuy chưa hoàn toàn tan biến, nhưng dưỡng sinh mùa thu đã bắt đầu rồi. Hôm nay, hãy cùng Vạn quốc dược vương nắm bắt những điểm quan trọng của dưỡng sinh mùa thu. 1. Mùa thu nên ăn gì? Dưỡng ẩm, nuôi dưỡng âm, tăng [...]

Bài viết Mùa thu nên ăn gì? làm gì? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Tiết Bạch lộ vừa qua, cái nóng mùa hè tuy chưa hoàn toàn tan biến, nhưng dưỡng sinh mùa thu đã bắt đầu rồi. Hôm nay, hãy cùng Vạn quốc dược vương nắm bắt những điểm quan trọng của dưỡng sinh mùa thu.

1. Mùa thu nên ăn gì? Dưỡng ẩm, nuôi dưỡng âm, tăng vị chua, tránh thức ăn lạnh

Thời tiết dần trở nên mát mẻ hơn, nhiều người bắt đầu nghĩ đến việc bổ sung dưỡng chất cho mùa thu. Tuy nhiên, sau mùa hè nắng nóng, chức năng tỳ vị của con người sẽ suy yếu đôi chút, nếu đột ngột bồi bổ quá nhiều có thể làm tăng gánh nặng cho tỳ vị. Vì vậy, có thể bắt đầu với các thực phẩm giàu dinh dưỡng và dễ tiêu hóa để từ từ “bổ sung dưỡng chất cho mùa thu”.

Dưỡng ẩm, nhuận táo

Dưỡng ẩm là điều cần thiết trong chế độ ăn uống mùa thu. Tại sao mùa thu lại gây khô hanh? Mùa thu thuộc hành Kim trong ngũ hành và tương ứng với phế (phổi) trong ngũ tạng của cơ thể. Lúc này, dương khí trong tự nhiên suy yếu, âm khí bắt đầu tăng lên, lượng mưa dần giảm, vì thế thời tiết chủ đạo của mùa thu là “khô hanh” đông y gọi là khí táo. Khí khô nóng dễ tổn hại đến phổi, làm hao tán âm dịch và khí trong cơ thể, gây ra các triệu chứng khô, như da khô nứt nẻ, khô miệng, khô mũi, họng khô, khát nước, lưỡi khô thiếu nước bọt, táo bón…. Trong trường hợp nặng hơn, phế bị ảnh hưởng dẫn đến đau họng, ho khan ít đờm hoặc đờm có máu.

Do thể chất mỗi người khác nhau, việc dưỡng ẩm cần phải được điều chỉnh phù hợp. Nhìn chung:

  • Nên ăn thức ăn thanh đạm, chọn rau quả tươi, uống nhiều nước;
  • Tránh các thức ăn cay nóng, chiên rán, nhiều dầu mỡ, cũng như tránh hành, gừng, tỏi, rượu mạnh;
  • Chọn các thực phẩm có tác dụng dưỡng ẩm, nhuận táo như bách hợp, mộc nhĩ trắng, vừng, óc chó, mía, sữa…

Dưỡng âm

Xuân hạ dưỡng dương, thu đông dưỡng âm. Mùa thu thích hợp để điều trị các chứng âm hư, nên ăn nhiều thực phẩm có tác dụng dưỡng âm.

  • Mộc nhĩ trắng (Ngân nhĩ, nấm tuyết): Giàu chất keo tự nhiên, có tác dụng làm đẹp, giúp điều hòa nhu động ruột, giảm hấp thụ chất béo. Tuy nhiên, những người bị tiêu chảy mạn tính không nên dùng.
  • Nhựa đào (đào giao): Khi kết hợp với hạt sen và mộc nhĩ trắng để nấu canh, dùng lâu dài có thể sinh tân, giảm khát, làm đẹp da. Tuy nhiên cần chuyên gia tư vấn về liều dùng cho phù hợp tránh độc.

Các thực phẩm khác có tác dụng dưỡng âm: mật ong, hạt sen, củ mài, táo đỏ, cùng với rau bina, nấm kim châm, sung, lê tuyết, củ cải trắng… có thể ăn thường xuyên để phòng ngừa tình trạng khô hanh làm tổn thương âm. Trong các vị thuốc Đông y, thạch hộc, kỷ tử, nhân sâm Mỹ đều có tác dụng dưỡng âm.

Tăng vị chua

Sau khi lập thu, có thể bổ sung một lượng vừa phải các thực phẩm có vị chua để thu liễm phế khí và dưỡng gan (gan có vị chủ đạo là chua, giúp tăng cường chức năng gan). Trong chế độ ăn uống, có thể ăn nhiều các loại trái cây có vị chua như nho, kiwi, sơn tra, chanh, táo, lựu, bưởi, v.v. Những loại trái cây này có tác dụng dưỡng âm, nhuận phế, sinh tân dịch, và giảm khát. Tuy nhiên, những người có đường huyết cao nên hạn chế hoặc tránh ăn nho.

Ăn thức ăn ấm

Vào đầu mùa thu, thời tiết vẫn còn nóng ẩm, làm suy yếu tỳ vị. Sau lập thu, khí hậu dần mát mẻ hơn, sức đề kháng của cơ thể cũng suy giảm. Như câu nói “Mùa thu ăn dưa hại dạ dày”, các loại dưa có tính hàn như dưa hấu, dưa gang nên ăn ít lại để tránh gây tổn hại cho cơ thể. Để bảo vệ tỳ vị, nên ăn nhiều thức ăn ấm và hạn chế các thực phẩm lạnh hoặc đồ uống lạnh, tránh gây ra các bệnh như viêm ruột, kiết lỵ. Có thể nấu cháo từ gạo tẻ hoặc gạo nếp, đều có tác dụng kiện tỳ vị và bổ trung khí. Tuy nhiên, người bị tiểu đường không nên uống cháo quá thường xuyên.

2. Mùa thu nên làm gì?

Nghỉ ngơi và vận động đều không thiếu. Mùa thu đến, con người nên ngủ sớm dậy sớm, giữ cho tinh thần ổn định, bình tĩnh, thu liễm khí thần đã tản ra trước đó, giúp phế khí giữ được sự trong sạch, từ đó cơ thể có thể thích ứng với khí thu liễm của mùa thu và đạt được sự cân bằng.

Ngoài ra, cũng cần điều chỉnh cảm xúc kịp thời, đây là nguyên tắc để thuận theo khí thu và dưỡng bảo chức năng thu liễm của cơ thể. Nếu chức năng thu liễm không được nuôi dưỡng đúng cách, sức mạnh bế tàng của mùa đông sẽ không đủ, sau khi vào đông dễ bị chứng tiêu chảy không kiểm soát, phân loãng hoặc phân sống.

Sau khi lập thu, có thể tăng cường vận động để nâng cao khả năng của phổi. Điều quan trọng nhất là tăng cường sức khỏe toàn diện, kiên trì luyện tập cơ thể. Đi bộ là hình thức vận động đơn giản và an toàn nhất, những người có thể trạng yếu có thể bắt đầu bằng việc đi bộ chậm, mỗi ngày đi từ 500 đến 1500 mét. Lúc đầu có thể đi với tốc độ quen thuộc của mình, sau đó tăng dần tốc độ, khi đã quen có thể tăng dần thời gian và quãng đường tập luyện.

Tần suất luyện tập nên giữ ở mức khoảng 30 phút mỗi ngày, hoặc có thể tập cách ngày, mỗi lần tập luyện kéo dài trên một giờ. Ngoài ra, các môn như leo cầu thang, chạy bộ chậm, thái cực quyền cũng rất tốt cho phổi.

Các bài tập hô hấp nên thực hiện ngoài trời, đều đặn và kiên trì để cải thiện chức năng phổi. Hơn nữa, các bài tập dành riêng cho cơ hô hấp có thể tăng cường sức mạnh và độ bền của cơ hô hấp, cải thiện chức năng phổi, tăng độ sâu của hơi thở, giúp tăng thông khí phế nang và độ bão hòa oxy trong máu. Các bài tập cơ hô hấp bao gồm thở bằng bụng, thở mím môi và các bài thể dục toàn thân kết hợp với hô hấp.

BS Uông Mai lược dịch

Bài viết Mùa thu nên ăn gì? làm gì? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/mua-thu-nen-an-gi-lam-gi/feed/ 0
Bát cương biện chứng – Hàn nhiệt biện chứng https://vanquocduocvuong.vn/bat-cuong-bien-chung-han-nhiet-bien-chung/ https://vanquocduocvuong.vn/bat-cuong-bien-chung-han-nhiet-bien-chung/#respond Sun, 14 Jul 2024 17:48:19 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=2339 Phân biệt hàn chứng – nhiệt chứng (hàn nhiệt biện chứng) là một trong những nội dung cụ thể của bát cương biện chứng (gồm tám loại chứng: âm, dương, biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực – là các nguyên tắc cơ bản trong chẩn đoán y học cổ truyền). Đặc điểm của bát cương [...]

Bài viết Bát cương biện chứng – Hàn nhiệt biện chứng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Phân biệt hàn chứng – nhiệt chứng (hàn nhiệt biện chứng) là một trong những nội dung cụ thể của bát cương biện chứng (gồm tám loại chứng: âm, dương, biểu, lý, hàn, nhiệt, hư, thực – là các nguyên tắc cơ bản trong chẩn đoán y học cổ truyền). Đặc điểm của bát cương biện chứng là nắm bắt tính toàn diện, tính xác định và tính tương quan trong quá trình phát sinh và phát triển của bệnh. Hàn nhiệt là hai nguyên tắc cơ bản nhất để phân biệt nguyên nhân và tính chất của bệnh. Đồng thời hàn nhiệt cũng làm rõ tình trạng thịnh suy của âm dương trong cơ thể. 

Để phân biệt hàn chứng và nhiệt chứng, cần phân tích tổng hợp tất cả triệu chứng và dấu hiệu. Các điểm khác biệt chính bao gồm cảm giác lạnh hoặc nóng, có khát nước hay không, tình trạng tiểu tiện và đại tiện, cũng như hình thái lưỡi và mạch.

1. Hàn chứng

Biểu hiện chung của hàn chứng

Hàn chứng do cảm nhận hàn tà, hoặc do nội thương lâu ngày, dương khí suy yếu, hoặc do ăn uống quá nhiều đồ sống lạnh, âm hàn nội thịnh gây ra, với đặc điểm lâm sàng là cảm giác lạnh.

Đặc trưng của hàn chứng có thể được mô tả ngắn gọn trong 5 chữ: lãnh (lạnh), đạm (nhạt), hy (loãng), nhuận (ẩm ướt), tĩnh.

Các biểu hiện cụ thể trên lâm sàng của hàn chứng có thể gặp:

  • Sợ lạnh, cảm giác cơ thể lạnh hơn bình thường (so với thời tiết thực tế, hoặc so với những người xung quanh), chân tay lạnh, thích ấm
  • Đau tăng khi gặp lạnh
  • Miệng nhạt không khát
  • Đờm, dãi, nước mũi trong
  • Tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng
  • Sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng ướt. 
  • Mạch trì hoãn hoặc trầm, tế vô lực hoặc khẩn

Phân loại hàn chứng

Hàn chứng bao gồm các loại như biểu hàn, lý hàn, hư hàn và thực hàn. Dựa trên sự phối hợp các cương lĩnh trong bát cương tạo ra các biểu hiện lâm sàng khác nhau

Hư hàn chứng

  • Nguyên Nhân: Do dương khí suy yếu (dương hư tất ngoại hàn), âm hàn tương đối thịnh.
  • Triệu Chứng Chính: Sắc mặt trắng, người lạnh, chân tay lạnh, mệt mỏi, lười nói, tự ra mồ hôi, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng. Chất lưỡi nhạt, hình thái lưỡi to, bệu. Mạch nhỏ yếu, chậm.
  • Điều Trị: Dùng phương pháp ôn bổ dương khí.

Thực hàn chứng

  • Nguyên Nhân: Do hàn tà thịnh, tức “âm thịnh thì hàn”.
  • Triệu Chứng Chính: Sợ lạnh, chân tay lạnh buốt, nôn ra nước trong, đau lạnh vùng dạ dày và bụng, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, nhờn, mạch trầm thực hữu lực.
  • Điều Trị: Dùng phương pháp ôn tán hàn tà.

2. Nhiệt chứng

Biểu hiện chung của nhiệt chứng

Nhiệt chứng là các triệu chứng xuất hiện khi cảm thụ nhiệt tà hoặc khi dương khí cang thịnh và âm dịch bất túc.

Đặc trưng của nhiệt chứng có thể được mô tả ngắn gọn trong 5 chữ: nhiệt (nóng), xích (đỏ), trù (đặc), táo (khô), động.

Các biểu hiện cụ thể trên lâm sàng của nhiệt chứng có thể gặp:

  • Sốt, ưa lạnh, thích uống nước lạnh
  • Mặt đỏ, bồn chồn, không yên
  • Đờm, dãi, nước mũi vàng đặc
  • Tiểu tiện ngắn và vàng, đại tiện táo
  • Lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, khô và ít dịch
  • Mạch nhanh

Phân loại nhiệt chứng

Nhiệt chứng bao gồm các loại như biểu nhiệt, lý nhiệt, hư nhiệt và thực nhiệt. Dựa trên sự phối hợp các cương lĩnh trong bát cương tạo ra các biểu hiện lâm sàng khác nhau.

Hư nhiệt chứng

  • Nguyên Nhân: Do âm dịch hư tổn (âm hư sinh nội nhiệt)
  • Triệu Chứng Chính: Người gầy, mệt mỏi, sốt nhẹ về chiều (triều nhiệt), ra mồ hôi trộm (đạo hãn), lòng bàn tay bàn chân và vùng ngực nóng bứt rứt (ngũ tâm phiền nhiệt), họng khô, miệng khô nhưng không muốn uống nước. Chất lưỡi đỏ đậm, ít rêu hoặc không có rêu. Mạch tế sác.
  • Điều Trị: Dùng phương pháp tư âm giáng hỏa.

Thực nhiệt chứng

  • Nguyên Nhân: Do dương nhiệt sí thịnh
  • Triệu Chứng Chính: Sốt cao, khát nước, mặt đỏ, mắt đỏ, tiểu tiện ngắn và đỏ, đại tiện bí kết, tâm phiền, nóng nảy, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày khô, mạch hồng đại sác
  • Điều Trị: Dùng phương pháp thanh nhiệt tả hỏa

3. Hàn nhiệt thác tạp chứng

Hàn nhiệt tác tạp chứng là hiện tượng cùng một bệnh nhân đồng thời có biểu hiện của cả hàn chứng và nhiệt chứng. Đây là một hiện tượng bệnh lý phức tạp, trong đó hàn và nhiệt cùng xuất hiện. Trên lâm sàng, hàn nhiệt lẫn lộn có thể biểu hiện ở các vị trí khác nhau hoặc cùng một vị trí có cả hàn và nhiệt.

Có một số thể hàn nhiệt thác tạp chứng như biểu nhiệt lý hàn, biểu hàn lý nhiệt, thượng nhiệt hạ hàn (trên nóng dưới lạnh), thượng hàn hạ nhiệt (trên lạnh dưới nóng). Khi điều trị, cần xem xét các triệu chứng xuất hiện ở giai đoạn và vị trí nào, sau đó quyết định phương pháp điều trị phù hợp.

Trên – dưới là một khái niệm tương đối. Nếu lấy hoành cách mô làm ranh giới, thì ngực là trên và bụng là dưới. Trong bụng, phần trên bụng là dạ dày và thượng vị, còn phần dưới bụng là bàng quang, ruột già và ruột non.

Thượng nhiệt hạ hàn

  • Mô tả: Bệnh nhân đồng thời có các triệu chứng nhiệt ở phần trên và hàn ở phần dưới cơ thể.
  • Ví dụ: Bệnh nhân có nhiệt ở ngực, hàn ở ruột, vừa có các triệu chứng nhiệt như nóng rát ngực, đau họng, khô miệng ở phần trên, lại vừa có các triệu chứng hàn như đau bụng thích ấm, đại tiện lỏng ở phần dưới. 

Thượng hàn hạ nhiệt

  • Mô tả: Bệnh nhân đồng thời có các triệu chứng hàn ở phần trên và nhiệt ở phần dưới cơ thể.
  • Ví dụ: Bệnh nhân bị đau lạnh vùng dạ dày, nôn ra nước trong, đồng thời kèm theo tiểu tiện nhiều lần, tiểu đau, tiểu ngắn và đỏ. Đây là chứng hàn ở dạ dày và nhiệt ở bàng quang. Do đó, trung tiêu có hàn và hạ tiêu có nhiệt, xét về vị trí tương đối, trung tiêu nằm trên hạ tiêu. Vì vậy, thuộc chứng trên hàn dưới nhiệt.

Biểu nhiệt lý hàn

  • Mô tả: Bệnh nhân có đồng thời cả biểu và lý bệnh, với nhiệt ở biểu và hàn ở lý.
  • Ví dụ: Thường gặp ở người có hàn ở lý từ trước, lại bị cảm phong nhiệt từ bên ngoài, hoặc biểu nhiệt chưa được giải, điều trị sai dẫn đến tổn thương dương khí của tỳ vị. Triệu chứng gồm: sốt, đau đầu, ho, viêm họng (biểu nhiệt), cùng với đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài, chân tay lạnh (lý hàn).

Biểu hàn lý nhiệt

  • Mô tả: Bệnh nhân có đồng thời cả biểu và lý bệnh, với hàn ở biểu và nhiệt ở lý.
  • Ví dụ: Thường gặp ở người vốn có nhiệt trong cơ thể, lại bị cảm phong hàn từ bên ngoài, hoặc ngoại tà truyền vào lý hóa nhiệt nhưng biểu hàn chưa được giải. Triệu chứng gồm: sợ lạnh, sốt, không ra mồ hôi, đau đầu, đau mình, khó thở, bồn chồn, khát nước, mạch phù và khẩn, tức là hàn ở biểu và nhiệt ở lý.

Khi phân biệt chứng hàn nhiệt thác tạp, ngoài việc xác định vị trí trên dưới, biểu lý, điều quan trọng là phải phân rõ mức độ của hàn và nhiệt.

  • Hàn nhiều nhiệt ít: Nên tập trung điều trị hàn, kết hợp điều trị nhiệt chứng.
  • Nhiệt nhiều hàn ít: Nên tập trung điều trị nhiệt, kết hợp điều trị hàn chứng.

4. Chuyển hóa giữa hàn chứng và nhiệt chứng

Trong một số điều kiện, hàn chứng và nhiệt chứng có thể chuyển hóa lẫn nhau.

Chuyển từ hàn chứng sang nhiệt chứng

  • Mô tả chung: Bệnh nhân ban đầu có hàn chứng, sau đó xuất hiện nhiệt chứng, và khi nhiệt chứng xuất hiện, hàn chứng dần biến mất. Đây là quá trình chuyển hàn chứng thành nhiệt chứng. Thường do dương khí thịnh, hàn tà do dương chuyển thành nhiệt, hoặc do điều trị không đúng cách, dùng quá nhiều thuốc ôn táo.
  • Ví Dụ: Bệnh nhân cảm thụ hàn tà, ban đầu có biểu hàn chứng với triệu chứng sợ lạnh, sốt nhẹ, đau mình, không ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng, mạch phù và khẩn. Khi bệnh tiến triển, hàn tà vào lý và chuyển thành nhiệt, triệu chứng sợ lạnh giảm dần, thay vào đó là sốt cao, bồn chồn, khát nước, rêu lưỡi vàng, mạch nhanh. Tình trạng biểu thị chứng bệnh đã chuyển từ biểu hàn sang lý nhiệt. Điều này cho thấy chính khí của cơ thể chưa suy yếu, tà khí và chính khí đang đấu tranh.

Chuyển từ nhiệt chứng sang hàn chứng

  • Mô tả chung: Bệnh nhân ban đầu có nhiệt chứng, sau đó xuất hiện hàn chứng, và khi hàn chứng xuất hiện, nhiệt chứng dần biến mất. Đây là quá trình chuyển nhiệt chứng thành hàn chứng. Thường do tà khí quá mạnh hoặc chính khí suy yếu, chính không thắng tà, chức năng cơ thể suy giảm; cũng có thể do điều trị sai, làm tổn thương dương khí.
  • Ví dụ: Bệnh nhân sốt cao, ra mồ hôi không ngừng, dương khí theo mồ hôi thoát ra, hoặc nôn mửa, tiêu chảy quá mức, dương khí theo dịch thoát ra, dẫn đến nhiệt độ cơ thể giảm đột ngột, chân tay lạnh buốt, mặt tái nhợt, mạch yếu gần như biến mất (thoát dương), quá trình chuyển đổi này diễn ra nhanh chóng.

Chuyển hóa giữa chứng hàn và chứng nhiệt phản ánh tình trạng thịnh suy của tà khí và chính khí trong cơ thể.

  • Chuyển từ hàn chứng sang nhiệt chứng: chính khí của cơ thể vẫn còn mạnh, hàn tà bị ức chế và chuyển thành nhiệt.
  • Chuyển từ nhiệt chứng sang hàn chứng: Thường do tà khí mạnh hơn và chính khí suy yếu, chính khí không thắng được tà khí.

5. Hàn nhiệt chân giả

Khi hàn chứng hoặc nhiệt chứng phát triển đến cực điểm, đôi khi sẽ xuất hiện những hiện tượng giả trái ngược với bản chất của bệnh, như “hàn cực tự nhiệt” và “nhiệt cực tự hàn”, tức là chân hàn giả nhiệt và chân nhiệt giả hàn. Những hiện tượng giả này thường gặp ở giai đoạn nguy kịch của bệnh, nếu không nhận biết kỹ lưỡng, dễ gây nguy hiểm đến tính mạng.

Chân hàn giả nhiệt

  • Mô tả: Đây là tình trạng bên trong bản chất là hàn nhưng bên ngoài lại biểu hiện giả nhiệt.
  • Cơ chế hình thành: Do âm hàn quá thịnh bên trong đẩy dương khí ra ngoài, âm dương hàn nhiệt tương khắc mà thành. Còn gọi là “âm thịnh cách dương”, âm thịnh bên trong, đẩy dương ra ngoài, tạo thành hiện tượng dương giả, âm cực giống dương.
  • Biểu hiện: Mình nóng, mặt đỏ hồng, khát nước, có thể có tình trạng chảy máu cam, mắt đỏ, mạch phù sác giống như nhiệt chứng, nhưng bệnh nhân mặc dù người nóng nhưng lại muốn đắp chăn, khát nước nhưng thích uống nước nóng và uống ít, mặt đỏ nhưng lúc có lúc không, mạch phù sác nhưng ấn xuống lại không có lực. Đồng thời còn có các triệu chứng như tứ chi lạnh buốt, ăn ít, nói nhỏ, tự ra mồ hôi, tiêu chảy ra chất lỏng trong, tiểu tiện trong và dài, lưỡi nhạt và mềm bệu, rêu lưỡi trắng trơn. Vì vậy, biểu hiện nhiệt chỉ là giả, dương hư hàn thịnh mới là bản chất của bệnh.

Chân nhiệt giả hàn

  • Mô tả: Đây là tình trạng bên trong thật nhiệt nhưng bên ngoài lại thấy giả hàn.
  • Cơ chế hình thành: Do dương nhiệt quá thịnh bên trong, dương khí bị ứ đọng bên trong, không thể phát tán ra tứ chi, hoặc dương thịnh bên trong đẩy âm ra ngoài. Còn gọi là “dương thịnh cách âm”. Dựa vào đặc điểm dương nhiệt ứ đọng gây lạnh tay chân, hiện tượng này còn gọi là “dương quyết” hoặc “nhiệt quyết”.
  • Biểu hiện: Tay chân quyết lạnh, mạch trầm giống như hàn chứng, nhưng tứ chi lạnh nhưng người không sợ lạnh mà lại sợ nóng, mạch trầm nhưng đập nhanh và có lực, đồng thời còn thấy khát nước, thích uống nước lạnh, họng khô, miệng hôi, nói sảng, tiểu tiện ngắn và đỏ, đại tiện khô cứng hoặc kiết lỵ nhiệt, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng và khô. Tay chân lạnh và mạch trầm chỉ là hiện tượng giả hàn, còn nội nhiệt mới là bản chất của bệnh

Để phân biệt chứng hàn nhiệt giả và thật, ngoài việc hiểu rõ quá trình diễn biến của bệnh, cần chú ý đến các điểm sau:

  • Vị trí xuất hiện của giả tượng: Giả tượng thường xuất hiện ở tứ chi, da và màu sắc của mặt, trong khi biểu hiện bên trong của tạng phủ, khí huyết và tân dịch thường phản ánh đúng bản chất của bệnh. Vì vậy, khi biện chứng nên lấy lý chứng, hình thái lưỡi và mạch làm căn cứ chính.
  • Khác biệt giữa giả tượng và thật tượng: Ví dụ, mặt đỏ giả nhiệt là màu sắc hồng nhẹ ở gò má, lúc có lúc không, trong khi mặt đỏ thật nhiệt là đỏ toàn mặt. Giả hàn thường biểu hiện lạnh tay chân, nhưng ngực và bụng lại rất nóng, khi ấn vào thấy nóng ran, hoặc toàn thân lạnh nhưng không muốn đắp chăn, trong khi thật hàn là nằm co ro, muốn đắp chăn.

Hàn chứng và nhiệt chứng phản ánh sự thịnh suy của âm dương trong cơ thể. Âm thịnh hoặc dương hư biểu hiện thành hàn chứng; dương thịnh hoặc âm hư biểu hiện thành nhiệt chứng. Phân biệt hàn nhiệt có ý nghĩa quan trọng trong điều trị. Trong sách “Tố Vấn. Chí Chân Yếu Đại Luận” có viết: “Hàn thì nhiệt trị”, “Nhiệt thì hàn trị”, hai phương pháp điều trị này hoàn toàn trái ngược nhau. Do đó, phân biệt hàn nhiệt phải chính xác và không được sai sót.

BS Uông Mai lược dịch

Bài viết Bát cương biện chứng – Hàn nhiệt biện chứng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/bat-cuong-bien-chung-han-nhiet-bien-chung/feed/ 0
Bát cương biện chứng – Biểu lý biện chứng https://vanquocduocvuong.vn/bat-cuong-bien-chung-bieu-ly-bien-chung/ https://vanquocduocvuong.vn/bat-cuong-bien-chung-bieu-ly-bien-chung/#respond Fri, 12 Jul 2024 17:24:51 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=2325 Biểu lý là một phần quan trọng trong chẩn đoán bát cương để xác định vị trí và mức độ bệnh tật. Bên cạnh đó việc xác định biểu lý còn giúp theo dõi xu hướng thay đổi bệnh lý. Bệnh ở biểu thì nông và nhẹ, còn bệnh ở lý thì sâu và nặng. [...]

Bài viết Bát cương biện chứng – Biểu lý biện chứng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Biểu lý là một phần quan trọng trong chẩn đoán bát cương để xác định vị trí và mức độ bệnh tật. Bên cạnh đó việc xác định biểu lý còn giúp theo dõi xu hướng thay đổi bệnh lý. Bệnh ở biểu thì nông và nhẹ, còn bệnh ở lý thì sâu và nặng. Khi tà khí bên ngoài xâm nhập vào bên trong thì bệnh tiến triển, khi tà khí bên trong lộ ra thì bệnh rút lui. Hiểu được mức độ nghiêm trọng của bệnh, chúng ta có thể nắm bắt được diễn biến của bệnh và chủ động điều trị. Đây là cơ sở để áp dụng các phương pháp điều trị như giải biểu hay công lý.

1. Biểu chứng

Biểu chứng là một loại bệnh chứng có vị trí bệnh biến ở lớp ngoài của cơ thể. Thường xuất hiện khi cơ thể bị các tác nhân như lục tà – lục dâm (các yếu tố khí hậu bất thường) xâm nhập vào da, cơ bắp và các vùng nông khác. Biểu chứng thường có các triệu chứng chính như sốt nhẹ, sợ lạnh (hoặc sợ gió), rêu lưỡi mỏng và trắng, mạch phù. Ngoài ra còn có thể kèm theo đau đầu, đau mỏi khớp tay chân, nghẹt mũi, chảy nước mũi, ho…. Đặc điểm của biểu chứng là phát bệnh nhanh, thời gian bệnh ngắn, và vị trí bệnh nông, chủ yếu gặp trong giai đoạn đầu của bệnh ngoại cảm. Tùy vào loại tà khí và tình trạng cơ thể mà biểu chứng được chia thành biểu hàn chứng, biểu nhiệt chứng, biểu hư chứng và biểu thực chứng.

  • Biểu Hàn chứng
    • Nguyên nhân: Do ngoại cảm phong hàn, tà khí xâm nhập lớp cơ biểu.
    • Triệu chứng: Sợ lạnh nhiều, sốt nhẹ, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn.
    • Điều trị: Tân ôn giải biểu.
  • Biểu Nhiệt chứng
    • Nguyên nhân: Do ngoại cảm phong nhiệt, tà khí xâm nhập lớp cơ biểu.
    • Triệu chứng: Sốt cao, sợ lạnh ít, đầu lưỡi và viền lưỡi đỏ, mạch phù sác.
    • Điều trị: Tân lương giải biểu.
  • Biểu Hư chứng
    • Nguyên nhân: Do vệ ngoại dương khí bất cố, tấu lý bất mật, cơ thể dễ bị ngoại tà xâm nhập.
    • Triệu chứng: Ngoài các triệu chứng của biểu chứng, còn có tự hãn hoặc ra mồ hôi, sợ gió, mạch phù hoãn.
    • Điều trị: Điều hòa dinh vệ.
  • Biểu Thực chứng
    • Nguyên nhân: Do ngoại tà xâm nhập cơ thể, dương khí tập trung ở cơ biểu, tà khí và chính khí đối kháng, tấu lý mật bế (lỗ chân lông đóng kín).
    • Triệu chứng: Ngoài các triệu chứng của biểu chứng, còn có sợ lạnh, không có mồ hôi, mạch phù khẩn.
    • Điều trị: Phát hãn giải biểu (làm ra mồ hôi và giải tà khí).

2. Lý chứng

Lý chứng, trái ngược với biểu chứng, là loại bệnh chứng có vị trí bệnh biến sâu và ảnh hưởng đến tạng phủ, khí huyết. Phạm vi của lý chứng khá rộng. Nhìn chung, lý chứng được hình thành qua ba loại:

  • Biểu chứng không giải, tà khí truyền vào lý: Khi bệnh tà từ bên ngoài xâm nhập sâu vào bên trong cơ thể.
  • Ngoại tà trực trúng tạng phủ: Khi các yếu tố gây bệnh từ bên ngoài tác động trực tiếp vào các cơ quan nội tạng.
  • Do tình chí nội thương, lao lực quá độ, ăn uống không điều độ gây rối loạn chức năng khí huyết của tạng phủ.

Triệu chứng lâm sàng của lý chứng khác nhau tùy theo nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh. Cũng giống như biểu chứng, lý chứng cũng phân chia theo hàn, nhiệt, hư, thực.

  • Lý Hàn chứng:
    • Nguyên nhân: Thường do dương khí bất túc hoặc hàn khí xâm nhập vào lý.
    • Triệu chứng: Mặt tái nhợt, người lạnh, tay chân lạnh, không khát hoặc khát nhưng thích uống nước ấm, đau bụng thích chườm ấm, tiểu trong và dài, đại tiện lỏng hoặc loãng, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trì.
    • Điều trị: pháp Ôn hóa.
  • Lý Nhiệt chứng
    • Nguyên nhân: Thường do ngoại tà xâm nhập vào lý hóa nhiệt hoặc nhiệt tà trực tiếp xâm nhập vào tạng phủ gây lý nhiệt bốc mạnh.
    • Triệu chứng: Mặt đỏ, người nóng, bồn chồn, khô miệng họng, khát nước thích uống lạnh, tiểu ngắn và đỏ, đại tiện táo bón hoặc tiêu chảy hôi thối, đại tiện có mủ và máu, lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng, mạch sác.
    • Điều trị: pháp Thanh tả lý nhiệt.
  • Lý Hư chứng:
    • Nguyên nhân: Do khí huyết tạng phủ suy yếu.
    • Triệu chứng: Mệt mỏi, thiếu sức, hơi thở ngắn và lười nói, chóng mặt, hoa mắt, hồi hộp, lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế nhược vô lực.
    • Điều trị: Bổ ích
  • Lý Thực chứng
    • Nguyên nhân: Do ngoại tà xâm nhập vào lý, kết ở dạ dày và ruột, hoặc do khí huyết uất kết, đàm ẩm nội trở, thực trệ, trùng tích…
    • Triệu chứng: Bụng trướng đau, cự án (ấn vào thấy đau), táo bón, bụng đầy, nóng sốt, mê sảng, giọng nói to và hơi thở mạnh, rêu lưỡi vàng dày, mạch trầm và thực.
    • Điều trị: Pháp chính “thông lý công hạ”. Đối với chứng khí huyết ứ trệ, đàm ẩm trùng tích khác nhau, pháp điều trị tùy theo bệnh tà, nhưng phương pháp điều trị chung là trục tà.
Tiêu chuẩn phân biệt Biểu chứng Lý chứng
Quá trình phát bệnh Bệnh mới mắc, diễn biến nhanh, thời gian bị bệnh ngắn Bệnh kéo dài, diễn biến bệnh kéo dài
Triệu chứng Sốt kèm theo sợ lạnh Sốt không kèm sợ lạnh hoặc sợ lạnh nhưng không sốt
Thiệt chẩn Biến đổi không nhiều Chất lưỡi và rêu lưỡi đều thay đổi rõ rệt.
Mạch chẩn Mạch phù Mạch trầm

3. Biểu lý đồng bệnh

Trong lâm sàng, ngoài các trường hợp biểu chứng và lý chứng đơn thuần, ở cùng một bệnh nhân có thể đồng thời xuất hiện cả biểu chứng và lý chứng. Tình trạng này gọi là biểu lý tương kiêm. Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến bệnh cảnh này gồm:

  • Bệnh tà đồng thời xâm nhập cả biểu và lý.
  • Biểu chứng chưa giải, bệnh tà đã truyền vào lý.
  • Bệnh nhân vốn đã có lý chứng, lại cảm nhiễm thêm tà khí bên ngoài.

Biểu lý tương kiêm thường kết hợp với các yếu tố hàn nhiệt, hư thực khác nhau, xuất hiện các chứng như biểu lý đều nhiệt, đều hàn, đều hư, đều thực, hoặc biểu nhiệt lý hàn, biểu hàn lý nhiệt, biểu hư lý thực, biểu thực lý hư. Khi điều trị có thể cùng lúc điều trị cả biểu và lý, hoặc trước tiên điều trị biểu rồi đến lý, hoặc ngược lại, trước tiên điều trị lý rồi đến biểu.

Trong trường hợp bệnh ngoại cảm chưa được điều trị kịp thời ở biểu, sau đó xâm nhập vào lý, trong quá trình truyền biến có thể xuất hiện chứng bán biểu bán lý, tức là tà khí không ở biểu mà cũng chưa vào lý. Biểu hiện lâm sàng của chứng này bao gồm hàn nhiệt vãng lai, ngực sườn đau tức, chán ăn, tâm phiền và buồn nôn. Phương pháp điều trị nên dùng là hòa giải biểu lý.

Biểu chứng và lý chứng trong một số điều kiện nhất định có thể chuyển hóa lẫn nhau, gọi là biểu lý xuất nhập. Nếu tà khí quá mạnh, chính khí hư suy, hoặc do điều trị sai lầm, không đúng, khiến biểu chứng không giải được, tà khí từ biểu truyền vào lý, xuất hiện lý chứng, tức là biểu chứng chuyển hóa thành lý chứng, biểu hiện bệnh tình nặng hơn. Ngược lại, nếu điều trị và chăm sóc đúng cách, khả năng chống tà khí của cơ thể tăng lên, bệnh tà từ lý truyền ra ngoài, tức là lý tà xuất biểu, phản ánh bệnh tình giảm nhẹ.

Việc nắm vững Biểu chứng, Lý chứng trong Bát cương đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bằng y học cổ truyền.

BS Uông Mai

Bài viết Bát cương biện chứng – Biểu lý biện chứng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/bat-cuong-bien-chung-bieu-ly-bien-chung/feed/ 0
Phương pháp chẩn đoán bệnh thông qua “Vọng thần” trong “Vọng chẩn” của y học cổ truyền https://vanquocduocvuong.vn/phuong-phap-chan-doan-benh-thong-qua-vong-than-trong-vong-chan-cua-y-hoc-co-truyen/ https://vanquocduocvuong.vn/phuong-phap-chan-doan-benh-thong-qua-vong-than-trong-vong-chan-cua-y-hoc-co-truyen/#respond Sun, 23 Jun 2024 15:17:38 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=2300   – Vọng chẩn là một trong 4 phương pháp khám bệnh của y học cổ truyền. Trong Vọng chẩn, vọng thần được xét đến đầu tiên trong tổng số 8 vấn đề chính gồm vọng thần – sắc – hình thái – mũi – mắt – môi – da – lưỡi. Hãy cùng nhau [...]

Bài viết Phương pháp chẩn đoán bệnh thông qua “Vọng thần” trong “Vọng chẩn” của y học cổ truyền đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
 

– Vọng chẩn là một trong 4 phương pháp khám bệnh của y học cổ truyền. Trong Vọng chẩn, vọng thần được xét đến đầu tiên trong tổng số 8 vấn đề chính gồm vọng thần – sắc – hình thái – mũi – mắt – môi – da – lưỡi. Hãy cùng nhau tìm hiểu xem y học cổ truyền dùng vọng thần để chẩn đoán bệnh tình như thế nào.

1. “Thần” trong “Vọng chẩn” là gì?

Sự thịnh suy của “Thần” liên quan trực tiếp đến sự sống chết của một người. 

Sách “Hoàng đế Nội kinh Tố vấn” chương 13 – Di tinh biến khí luận có đoạn: “得神者昌,失神者亡”. Đại ý cái cốt yếu của sự trị bệnh là xét ở sắc và mạnh. Sau khi đã nhận rõ thế nào là thuận, thế nào là nghịch, thế nào là tiêu, thế nào là bản, rồi lại phải xét xem có “Thần” hay không. Nếu không có thần thời sẽ chết. Đó là cái cốt yếu của sự trị bệnh”

Sách “Nội kinh linh khu” có đoạn: “失神者死,得神者昌。神在人體中的重要性可見一斑”. Đại ý người mất “Thần” thì chết, người còn “Thần” thì sống. Tầm quan trọng của “Thần” với con người là điều hiển nhiên.

Thuật ngữ “Thần” trong y học cổ truyền bao hàm 2 ý nghĩa

  • Thần chí: là sự hoạt động tư duy, ý thức và tình chí (cảm xúc)
  • Thần khí: là biểu hiện bên ngoài của sự hoạt động các tạng phủ bên trong cơ thể. 

Như vậy “Thần” không chỉ đề cập đến các dấu hiệu bên ngoài về hoạt động chức năng của các mô cơ quan mà còn đề cập đến trạng thái hoạt động tinh thần, ý thức và cảm xúc.

Vọng thần chính là thông qua các biểu hiện này để đánh giá về sự thịnh suy của không chỉ các cơ quan bên trong cơ thể mà còn đánh giá cả các hoạt động tư duy, ý thức, cảm xúc. Vọng thần chính là một phương pháp để chẩn đoán bệnh tình.

2. Những biểu hiện của “Thần” thông qua “Vọng chẩn”

Y học cổ truyền lý luận “Hình – Thần hợp nhất”. “Thần” là biểu hiện chung của các hoạt động sống trong cơ thể. Vọng thần bao gồm quan sát mục quang, sắc trạch, thần tình và thể thái. Trong đó quan sát sự biến hóa của thần mắt (mục quang) là quan trọng nhất.

Hình – Thần có mối quan hệ mật thiết. Ví như thân thể khỏa mạnh thần sẽ tốt, thân thể suy nhược, thần sẽ mệt mỏi. Khi Hình – Thần không nhất quán, cần rất thận trọng lúc điều trị. Ví như bệnh tình lâu ngày, thân thể suy yếu, sắc không tươi nhuận nhưng thần còn tỉnh táo. Hay bệnh mới mắc nhưng hôn mê, tuy cơ thể vẫn còn đầy đặn nhưng đó lại chưa hẳn là dấu hiệu tốt.

2.1. Mục quang – thần mắt (ánh mắt)

Theo y học cổ truyền, mắt thông với não chịu sự chi phối của tâm thần vì vậy có câu “神藏于心,外候在目” – “thần tàng ở tâm, hiện lên ở mắt”.

Sách Linh khu nói: “五藏六府之精气皆上注于目而为之精” – tinh túy của ngũ tạng lục phủ đều tập trung về mắt.

Như vậy y học cổ truyền quan niệm việc vọng thần – quan sát mắt có thể đánh giá được sự mạnh – yếu của các cơ quan trong cơ thể.

Đề cập đến biểu hiện của mắt, chủ yếu được đánh giá bằng cách quan sát xem

  • mắt có sáng hay không,
  • nhãn cầu có linh hoạt hay không,
  • thị lực có rõ ràng hay không, v.v.

Bởi vì tinh túy của ngũ tạng lục phủ đều tập trung ở mắt, được kết nối với não và đóng vai trò là khiếu của gan, sứ giả của trái tim và là ngôi nhà của tinh thần (肝之窍,心之使,神之舍). Đôi mắt có thể phản ánh rõ nhất sự thịnh vượng và suy giảm chức năng của các cơ quan nội tạng.

Nếu mắt có nhiều ánh sáng, con ngươi cử động linh hoạt, tầm nhìn rõ ràng… thì đó là dấu hiệu của “còn Thần”, tinh khí của tạng phủ còn sung túc.

Nếu ánh mắt lờ đờ, con ngươi mắt cử động chậm chạp, nhìn không rõ thì tinh khí của tạng phủ đã bị suy yếu.

2.2. Sắc trạch

Mùa sắc trong vọng chẩn là màu sắc da của toàn thân lấy màu sắc da của vùng mặt làm chính. Thần vượng thì sắc tươi nhuận, thần suy thì sắc kém. Da có tươi nhuận hay khô hốc hác đều là tiêu chuẩn để đánh giá công năng hoạt động của tạng phủ. Sắc da lấy theo tiêu chuẩn màu da theo chủng tộc. Ví dụ người Việt Nam màu da thường vàng nhạt có sắc hồng rạng rỡ là người khỏe mạnh.

2.3 Thần tình

Tinh thần, ý thức, nét mặt đều phản ảnh trực tiếp tình trạng sức khỏe hiện tại.

Sức khỏe tốt thì thần trí minh mẫn, tư duy mạch lạc, phản ứng nhanh nhẹn, biểu cảm phong phú. Tâm thần suy yếu thì thần trí mơ màng, suy nghĩ lung tung, thờ ơ hoặc kích động…

2.4. Thể thái

Thể thái là tư thế, động thái của cơ thể. Cơ thể đầy đặn hay gầy gò. Động tác tự nhiên nhanh nhẹn hay vận động khó khăn, yếu liệt..

Ngoài các biểu hiện trên của Thần cũng cần phối hợp thêm với ngôn ngữ, tình trạng hô hấp, xem lưỡi, xem mạch… để đưa đến bức tranh toàn cảnh về tình trạng sức khỏe của một người qua đó có thể chẩn đoán sơ bộ chứng hậu từ đó có phương án điều trị phù hợp.

3. Phân loại “Thần” trong Vọng chẩn

Trên thức tế lâm sàng, sau khi quan sát – Vọng Thần, người thầy thuốc có thể tóm tắt sơ bộ các biểu hiện để phân loại mức độ nặng nhẹ của bệnh thông qua “Đắc thần, thiểu thần, thất thần, giả thần, loạn thần”.

3.1 Đắc thần

Đắc thần hay còn gọi là “có thần”. Biểu hiện: nét mặt tươi tỉnh, ý thức mạch lạc, giọng nói rõ ràng, cảm xúc phong phú, da sáng, sắc mặt vinh nhuận (tâm vượng); ánh mắt sáng, con ngươi linh hoạt, phản ứng nhạy bén, hoạt động chân tay linh hoạt (can thận đầy đủ), hơi thở sâu đều đặn (phế sung túc), cơ bắp săn chắc (tỳ vượng)…

Y học cổ truyền cho rằng người bệnh “đắc thần – còn thần”  thì chính khí và công năng tạng phủ trong cơ thể chưa bị tổn thương nhiều, tiên lượng bệnh tốt.

3.2. Thiểu thần

Thiểu thần hay thần khí bất túc trên lâm sàng biểu hiện ánh mắt đờ đẫn, người thiếu sức sống, nước da xỉn màu, suy nghĩ chậm chạp, lười biếng, cơ bắp nhẽo, cử động chậm chạp, giọng nói trầm, không muốn nói, mệt mỏi, yếu ớt.

3.3. Thất thần

Thất thần (thất thần ở bệnh nặng có thể đến mức vô thần) biểu hiện trên lâm sàng với nhiều biểu hiện tiêu cực. Tình trạng này có thể gặp ở những người bệnh tình nghiêm trọng hoặc bệnh lâu ngày, tiên lượng xấu.

  • Tinh khuy thần suy: Ánh mắt đờ đẫn, mắt mờ, sắc mặt thờ ơ không được tươi tắn, tinh thần mệt mỏi, ý thức mơ hồ, phản ứng chậm chạp, cơ nhục teo, gầy gò…
  • Tà thịnh thần loạn: hôn mê, nói mê, hành vi thất thường, hoặc đột ngột ngã xuống bất tỉnh, hai tay nắm chặt, hàm răng cắn chặt… Các biểu hiện này gợi ý tình trạng tà khí cang thịnh, nhiệt nhiễu thần minh, tà nhập tâm bào hoặc can phong giáp đàm… Các tình trạng này thường gặp ở bệnh nhân bệnh nặng cấp tính.

3.4. Giả thần

Giả thần hay hồi quang phản chiếu (tàn đăng phúc minh) là những trường hợp mắc bệnh nặng lâu ngày, cơ thể quá suy kiệt đến cực độ, đột nhiên lại có biểu hiện khá lên như tỉnh táo, đòi ăn uống. Đây chính là tình trạng giả thần xảy ra khi chính khí sắp mất.

  • Ánh mắt vốn u tối đột nhiên sáng lên
  • Da mặt vốn xám xịt đột nhiên có vẻ hồng hào, hai gò má đỏ bừng như trang điểm.
  • Thần trí vốn đã hôn mê hoặc tinh thần cực kỳ suy nhược, đột nhiên có vẻ tỉnh táo, muốn gặp người thân, nói chuyện không ngừng, nhưng tinh thần lại bồn chồn không yên.
  • Thân thể vốn nặng nề khó di chuyển, đột nhiên muốn dậy hoạt động, nhưng không thể tự mình di chuyển.
  • Vốn không có cảm giác thèm ăn, lâu ngày không ăn uống, đột nhiên muốn ăn và ăn rất nhiều.

Sự xuất hiện của giả thần là do tinh khí của các tạng phủ suy kiệt đến cực độ, chính khí sắp mất, âm không thu liễm dương, hư dương thoát ra ngoài, âm dương sắp phân ly. Trong cổ đại, hiện tượng này được ví như “hồi quang phản chiếu” hoặc “tàn đăng phúc minh”, thường là dấu hiệu của bệnh nhân nguy kịch trước khi qua đời. Cần phân biệt rõ giả thần và sự cải thiện của bệnh tình.

Triệu chứng “khá lên” đột ngột của giả thần không phù hợp với sự xấu đi của tình trạng bệnh tổng thể, và chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, sau đó bệnh tình nhanh chóng xấu đi. Khi bệnh nặng được cải thiện, thần khí cải thiện dần dần và phù hợp với sự cải thiện của tình trạng tổng thể, như ăn uống tăng lên dần, da mặt dần trở nên hồng hào, chức năng cơ thể dần hồi phục.

3.5 Loạn thần

Thần loạn chỉ tình trạng rối loạn thần trí, thường biểu hiện lâm sàng bao gồm lo lắng sợ hãi, cuồng loạn không yên, thờ ơ đần độn và đột nhiên ngất xỉu, thường gặp ở các bệnh nhân mắc bệnh điên, cuồng, đần độn, động kinh và tạng táo.

Lo lắng sợ hãi:

Chỉ tình trạng bệnh nhân luôn luôn sợ hãi, lo lắng không yên, tim đập nhanh, thở dốc, không dám ở một mình trong phòng, thường thuộc chứng hư, thường gặp ở bệnh nhân mắc chứng tạng táo, thường do tâm đởm khí hư, tâm thần thất dưỡng.

Cuồng loạn không yên:

Chỉ tình trạng bệnh nhân cuồng loạn, hành động lộn xộn, nói nhảm, ít ngủ nhiều mơ, đánh người chửi mắng, không phân biệt thân sơ. Thường thuộc chứng dương, thường gặp ở bệnh cuồng, thường do giận dữ quá mức, khí uất hóa hỏa, chưng đốt tân dịch thành đàm, đàm hỏa nhiễu tâm.

Thờ ơ đần độn:

Chỉ tình trạng bệnh nhân biểu cảm thờ ơ, thần trí đần độn, lẩm bẩm tự nói, khóc cười vô thường, bi quan thất vọng. Thường thuộc chứng âm. Thường do ưu tư kết khí, tân dịch ngưng kết thành đàm, đàm trọc che lấp tâm thần, hoặc do bẩm sinh thiếu hụt.

Đột nhiên ngất xỉu:

Chỉ tình trạng bệnh nhân đột nhiên ngất xỉu, miệng phun nước dãi, hai mắt trợn ngược, tứ chi co giật. Sau khi tỉnh dậy thì bình thường. Thuộc bệnh động kinh, thường do khí tạng mất điều hòa, can phong hiệp đàm thượng nghịch, bế trở thanh khiếu.

Tình trạng Tà thịnh thần loạn và tình trạng loạn thần có ý nghĩa lâm sàng khác nhau. Những triệu chứng như hôn mê, nói mê, hành vi bất thường do tà khí thịnh vượng cũng thuộc loạn thần. Nhưng chủ yếu chỉ tình trạng hôn mê, thường xuất hiện ở giai đoạn nặng của các bệnh toàn thân. Loạn thần ở đây chủ yếu chỉ tình trạng rối loạn thần trí, thường tái phát nhiều lần. Khi thuyên giảm thường không có biểu hiện “loạn thần”, tình trạng bệnh không nhất thiết là nguy kịch. Triệu chứng loạn thần chủ yếu được sử dụng làm cơ sở chẩn đoán bệnh.

Trên đây là những biểu hiện cũng như phân loại “Thần” được các thầy thuốc y học cổ truyền sử dụng để chẩn đoán và tiên lượng tình trạng bệnh tình.

BS Uông Mai

P/s: Hình ảnh minh họa trong bài viết sử dụng được tạo ra bằng trí tuệ nhân tạo ChatGPT

Bài viết Phương pháp chẩn đoán bệnh thông qua “Vọng thần” trong “Vọng chẩn” của y học cổ truyền đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/phuong-phap-chan-doan-benh-thong-qua-vong-than-trong-vong-chan-cua-y-hoc-co-truyen/feed/ 0