Uông Mai, Tác giả tại Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/author/quanlynoidung/ Wed, 04 Mar 2026 02:06:30 +0000 vi hourly 1 https://vanquocduocvuong.vn/wp-content/uploads/2022/07/cropped-logo-vanquocduocvuong.png Uông Mai, Tác giả tại Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/author/quanlynoidung/ 32 32 Thảo luận về vị thuốc Sài hồ https://vanquocduocvuong.vn/thao-luan-ve-vi-thuoc-sai-ho/ https://vanquocduocvuong.vn/thao-luan-ve-vi-thuoc-sai-ho/#respond Wed, 04 Mar 2026 02:06:30 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3288 Sài hồ là một vị thuốc quen thuộc trong Đông y, xuất hiện dày đặc trong các phương thang kinh điển và được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng suốt hàng nghìn năm. Tuy nhiên, “Sài hồ” không chỉ có một loại, và công năng của nó cũng không đơn thuần là sơ can [...]

Bài viết Thảo luận về vị thuốc Sài hồ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>

Sài hồ là một vị thuốc quen thuộc trong Đông y, xuất hiện dày đặc trong các phương thang kinh điển và được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng suốt hàng nghìn năm. Tuy nhiên, “Sài hồ” không chỉ có một loại, và công năng của nó cũng không đơn thuần là sơ can giải uất hay giải biểu lui nhiệt như cách hiểu phổ thông. Ngay chính các chuyên gia cũng còn nhiều tranh cãi xoay quanh các dùng của Sài hồ. Cùng tham khảo ý kiến của Giáo sư Trương Đình Khuất (张廷模)

Về Chủng loại và Dược liệu

Hiện nay có nhiều loại Sài hồ, nhưng theo Dược điển Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, hai loại chính được thu nhận là Sài hồ (Bắc Sài hồ) và Sài hồ lá hẹp (Nam Sài hồ).

  • Bắc Sài hồ: Chủ yếu dùng phần rễ, sản xuất tại miền Bắc, nên gọi là Bắc Sài hồ.
  • Nam Sài hồ (Sài hồ lá hẹp): Thường dùng toàn cỏ (cả phần trên mặt đất). Lá của nó giống lá trúc nhỏ nên còn gọi là Trúc diệp Sài hồ.

Tranh luận chuyên môn: Hiện vẫn còn tranh luận về việc dùng rễ hay dùng toàn cỏ có tác dụng giống nhau không. Thực tế, phần trên mặt đất chứa nhiều tinh dầu, trong khi rễ lại chứa nhiều Saponin. Vì vậy, Bắc Sài hồ và Nam Sài hồ nên có sự phân biệt về công năng ứng dụng, điều này cần nghiên cứu thêm. Hiện nay lâm sàng đa số vẫn dùng chung theo các công năng trong giáo trình.

Công năng chính của Sài hồ

Giải biểu thoái nhiệt

Giống như Cát căn, Sài hồ có tác dụng Giải biểu thoái nhiệt.

  • Đặc điểm: Sài hồ có hiệu quả hạ sốt cực tốt đối với ngoại cảm phát nhiệt (biểu chứng phát nhiệt). Trong lâm sàng hiện đại, nó thường được dùng như một vị thuốc chuyên biệt để hạ sốt khi cảm mạo.
  • Tính chất: Sài hồ được gọi chung là “Giải biểu thoái nhiệt” vì từ xưa đến nay, khi dùng Sài hồ trị biểu chứng, người ta không phân biệt Hàn hay Nhiệt, đều có thể sử dụng rộng rãi.
  • Lịch sử vận dụng:
    • Thời cổ đại, nhận thức về Phong nhiệt chưa sâu sắc như Phong hàn, nên Sài hồ thường xuất hiện trong các bài thuốc trị Phong hàn như Bại Độc Tán.
    • Thời Tống, bài Sài Hồ Tán (Sài hồ và Cam thảo) được dùng cho mọi chứng ngoại cảm phát nhiệt bất kể hàn nhiệt.
    • Thời Minh, Trương Cảnh Nhạc trong Cảnh Nhạc Toàn Thư đã tự lập ra 3 bài thuốc: Nhất Sài Hồ Ẩm (Ôn tán – trị phong hàn), Nhị Sài Hồ Ẩm (Lương tán – trị phong nhiệt) và Chính Sài Hồ Ẩm (Bình tán – trị cảm mạo không rõ thiên hướng hàn hay nhiệt).

Điều này cho thấy Sài hồ có thể dùng rộng rãi cho mọi loại cảm mạo. Hiện nay, “Dịch tiêm Sài hồ” cũng được dùng phổ biến để hạ sốt cho trẻ em mà không quá khắt khe về phân thể chứng bệnh.

Hòa giải Thiếu dương (Hòa giải Biểu Lý)

Dưới góc độ Biện chứng lục kinh của Thương Hàn Luận, Sài hồ giỏi về “ngoại thấu bán biểu bán lý”, tức là tà khí ở kinh Thiếu dương.

  • Trương Trọng Cảnh dùng Sài hồ phối ngũ với Hoàng cầm (trong bài Tiểu Sài Hồ Thang) để trị chứng “Hàn nhiệt vãng lai”.
  • Lưu ý: Công năng “Hòa giải Thiếu dương” là tác dụng tổng hợp của bài thuốc (phối ngũ Sài hồ + Hoàng cầm), chứ không phải công năng đơn độc của vị Sài hồ. Một số tài liệu ghi Sài hồ có công năng “Hòa giải thoái nhiệt” là chưa hoàn toàn chính xác về mặt học thuật.

Sơ can giải uất

Đây là công năng điều trị tình trạng Can khí uất kết. Can chủ sơ tiết, giúp khí cơ toàn thân thông suốt. Nếu chức năng này thất thường, khí cơ sẽ ứ trệ (Can khí bất thư), gây ra đau chướng hông sườn, uất ức, phiền táo hoặc trầm cảm. Trong phụ khoa, Can uất dẫn đến kinh nguyệt không đều, thống kinh. Sài hồ là vị thuốc cực kỳ quan trọng trong các bài thuốc sơ can, tiêu biểu là bài Tiêu Dao Tán. So với Bạc hà (cũng có tác dụng sơ can nhưng chỉ đóng vai trò hỗ trợ), Sài hồ đóng vai trò chủ chốt, mạnh mẽ hơn.

Thăng dương cử hãm

Giống như Cát căn, Sài hồ có thể Thăng dương, cụ thể là thăng cử tỳ khí (thanh dương chi khí của tỳ vị).

  • Ứng dụng: Dùng cho chứng Trung khí hạ hãm (Tỳ khí không thăng mà sụp xuống) gây ra cảm giác sa giáng ở bụng dưới, sa tạng phủ (sa dạ dày, sa tử cung, thoát giang).
  • Phối ngũ: Sài hồ thường phối hợp với các thuốc bổ khí như Hoàng kỳ, Nhân sâm (như trong bài Bổ Trung Ích Khí Thang của Lý Đông Viên). Bản thân Sài hồ không có tác dụng bổ, nó chỉ đóng vai trò “thăng cử” phần khí vốn đã có nhờ các thuốc bổ kia.
  • So sánh với Cát căn: Cát căn thiên về trị tiêu chảy (tiết tả) do tỳ hư, còn Sài hồ thiên về trị sa tạng phủ. Có người cho rằng Sài hồ không tốt cho người đang tiêu chảy vì tính “thôi trần tự tân” (đẩy cái cũ ra, sinh cái mới) của nó có thể làm tiêu chảy nặng hơn.

Cách dùng và Liều lượng (Rất quan trọng)

Liều lượng và cách bào chế của Sài hồ thay đổi tùy theo mục đích sử dụng:

  • Giải biểu thoái nhiệt: Dùng Sài hồ sống (sinh dụng). Liều lượng thường lớn (từ 10g trở lên).
  • Sơ can giải uất: Thường dùng Sài hồ sao giấm (thố chích) để dẫn thuốc vào kinh Can và tăng tác dụng chỉ thống (giảm đau). Liều lượng thường trung bình (3 – 6g).
  • Thăng dương cử hãm: Thường dùng Sài hồ sao rượu (tửu chích) để tăng tính thăng đề. Liều lượng dùng thường rất nhỏ. Lý Đông Viên trong bài Bổ Trung Ích Khí nguyên bản chỉ dùng khoảng 1g (2-3 phân). Hiện nay dùng khoảng 3-6g là phù hợp.

Sài hồ là vị thuốc “đa năng” nhưng cần sự tinh tế trong việc chọn liều. Dùng liều cao để cắt sốt, dùng liều thấp để thăng đề dương khí. Đây là điểm mấu chốt mà các thầy thuốc Đông y cần nắm vững.

Bài viết Thảo luận về vị thuốc Sài hồ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/thao-luan-ve-vi-thuoc-sai-ho/feed/ 0
Phân biệt các loại Sài hồ https://vanquocduocvuong.vn/phan-biet-cac-loai-sai-ho/ https://vanquocduocvuong.vn/phan-biet-cac-loai-sai-ho/#respond Sun, 01 Feb 2026 04:46:40 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3247 https://zhuanlan.zhihu.com/p/82182901 Phân loại Sài hồ Sài Hồ (tên khoa học: Bupleurum) bắt nguồn từ hai từ tiếng Hy Lạp: Bous nghĩa là “con bò đực” và Pleuron nghĩa là “xương sườn”. Tên gọi này xuất phát từ việc lá của cây Sài Hồ trông rất giống xương sườn của bò. Vị thuốc này được ghi [...]

Bài viết Phân biệt các loại Sài hồ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://zhuanlan.zhihu.com/p/82182901

Phân loại Sài hồ

Sài Hồ (tên khoa học: Bupleurum) bắt nguồn từ hai từ tiếng Hy Lạp: Bous nghĩa là “con bò đực” và Pleuron nghĩa là “xương sườn”. Tên gọi này xuất phát từ việc lá của cây Sài Hồ trông rất giống xương sườn của bò.

Vị thuốc này được ghi chép lần đầu trong Thần Nông Bản Thảo Kinh, xếp vào hàng “Thượng phẩm”. Thuở sơ khai có tên là “Tỷ Hồ” (茈胡), đến thời Đồ Kinh Bản Thảo mới đổi tên thành Sài Hồ. Lý Thời Trân (tác giả Bản Thảo Cương Mục) từng nói: “Tỷ Hồ mọc trong núi, lúc non có thể làm rau ăn, lúc già thì hái về làm củi (Sài), nên mầm cây có tên là Vân hào, Sơn thái, hay Thảo mộc, còn rễ gọi là Sài Hồ.” Chữ “Tỷ” (茈) trong Tỷ Hồ có âm đọc gần giống “Sài” (柴). Vì rễ cỏ có màu tím, người sau dùng bộ “Mộc” thay cho bộ “Mịch”, gọi thống nhất là Sài Hồ. Dược liệu thường được phân thành “Bắc Sài Hồ” và “Nam Sài Hồ”.

Ngoài ra còn có một vị thuốc khác gọi là Ngân Sài hồ. Ba vị thuốc này tên gọi gần giống nhau nhưng công dụng lại khác biệt rất lớn.

Chủng loại và bộ phận dùng làm thuốc

Bắc Sài hồ

Bắc Sài hồ là rễ của cây Sài hồ – một loài thực vật thân thảo sống nhiều năm thuộc họ Hoa tán (Umbelliferae). Sau khi loại bỏ tạp chất, rửa sạch và phơi khô thì dùng làm thuốc. Sản phẩm chủ yếu được trồng và thu hái tại các vùng phía Bắc như Liêu Ninh, Cam Túc, Hà Bắc, Hà Nam…

Bắc Sài hồ
Bắc Sài hồ

Bề ngoài có màu nâu nhạt hoặc nâu đất, chất cứng, khó bẻ gãy, ít cong, nên còn được gọi là “Sài hồ cứng” (硬柴胡 – Ngạnh Sài hồ). Phần đầu rễ phình to, phân nhiều nhánh và có nhiều rễ con; phần gỗ bên trong có màu trắng hoặc trắng ngà. Khi xoắn nhẹ có thể thấy phần gỗ bị nứt vỡ hoặc tách thành dạng dải, phiến; các rễ nhánh nhỏ, mảnh thì dễ bẻ gãy. Mùi hơi thơm nhẹ, vị nhạt.

Sách 《本草汇言 – Bản thảo hội ngôn》khái quát rằng: “Bắc Sài hồ xuất xứ từ các lộ thuộc Sơn Đông, màu đen sẫm mà chắc mịn, hình ngắn như cây chổi.”

Do chỉ dùng phần rễ làm thuốc, lại thường được thu hái vào mùa thu, nên còn có tên gọi khác là “Thu Hồ Sài” (秋胡柴).

Bắc Sài hồ có công năng hòa giải, lui sốt và sơ giải biểu tà rất rõ rệt; dùng loại còn sống (chưa sao chế) là tốt nhất, liều lượng nên dùng hơi cao, phần nhiều được dùng trong các chứng ngoại cảm nhiệt bệnh.

Đúng như sách《本草求真 – Bản thảo cầu chân》đã nói: “Muốn giải tán thì nên dùng Bắc Sài hồ.”

Ông Chu Đông Sinh (朱东生) cũng từng nói: “Bắc Sài hồ chuyên giải nhiệt, đặc biệt là tà nhiệt trong thương hàn.”

Nam Sài hồ

Nam Sài hồ là rễ của cây Sài hồ lá hẹp (狭叶柴胡). Sau khi loại bỏ tạp chất, rửa sạch, thái lát (hoặc cắt đoạn) rồi phơi khô thì dùng làm thuốc. Chủ yếu sản xuất tại các tỉnh miền Nam Trung Quốc như Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Giang Tô… Trong đó, loại sản xuất tại Tứ Xuyên được gọi là Xuyên Sài hồ.

Bề ngoài có màu vàng nâu hoặc nâu đỏ, chất nhẹ và mềm hơn, tính giòn, dễ bẻ gãy; rễ đơn thưa rễ con, ít hoặc không có xơ gỗ; mùi nhẹ, có mùi tanh dầu, vị nhạt. Còn được gọi là “Tế Sài hồ” hoặc “Nhuyễn Sài hồ” (Sài hồ mềm).

Nam Sài hồ
Nam Sài hồ

Vì Nam Sài hồ thường được thu hái cả rễ lẫn mầm vào khoảng trước và sau tiết Thanh Minh, nên còn có tên là “Xuân Sài hồ.” Ở một số địa phương chỉ dùng phần rễ làm thuốc; rễ có màu nâu đỏ nên cũng được gọi là “Hồng Sài hồ.”

Nam Sài hồ thiên về công năng sơ can giải uất, thăng dương tán tà; thường dùng trong các chứng nội thương tạp bệnh do uất mà hóa nhiệt.

Muốn sơ can giải uất thì nên sao với giấm; muốn thăng dương có thể dùng sống hoặc sao với rượu; liều lượng nên dùng hơi nhẹ.

Sách 《本草汇言 – Bản thảo hội ngôn》viết: “Người tỳ hư, lao quyện thì dùng Bổ trung ích khí thang; phụ nữ can uất lao nhược thì dùng Tiêu dao tán, Thanh hao tiên hoàn, thêm ít Sài hồ.” Chữ “Sài hồ” ở đây chính là chỉ Nam Sài hồ.

Các danh y như Diệp Thiên Sĩ (叶天士) và Trần Ấu Thanh (陈幼清) từng nói:“Sài hồ có thể cướp âm của can.” Chữ “Sài hồ” trong câu này cũng là chỉ Nam Sài hồ.

Vì tính của vị thuốc này có xu hướng thăng tán, nên trong lâm sàng những trường hợp can dương thượng cang, can phong nội động, âm hư hỏa vượng hoặc khí cơ nghịch lên trên thì kiêng dùng hoặc thận trọng khi dùng.

Ngân Sài hồ

Ngân Sài hồ là rễ phơi khô của cây Ngân Sài hồ – một loài thuộc chi Phồn lũ (繁缕属), họ Cẩm chướng (石竹科). Vị thuốc có mùi nhẹ, vị ngọt; chủ yếu sản xuất tại Thiểm Tây, Nội Mông và Ninh Hạ. Năm 1959, Cục Quản lý Dược phẩm Trung Quốc đã chính thức ghi nhận vị thuốc này trong 《中药材手册 – Sổ tay Dược liệu Trung dược》.

Ngân sài hồ - Bắc Sài hồ

Ngân Sài hồ có tính vị ngọt, hơi hàn; có công năng thanh hư nhiệt, trừ cam nhiệt… Chủ yếu dùng trong các chứng âm hư phát nhiệt, cam tích phát nhiệt v.v.

Đối với các chứng như dương hư phát nhiệt, cốt chưng lao nhiệt, lương huyết, công hiệu của Ngân Sài hồ vượt trội hơn so với Bắc Sài hồ và Nam Sài hồ.

Danh y đời Thanh, Uông Ngang, trong sách《本草备要 – Bản thảo bị yếu》có viết:
“Nhiệt có khi ở bì phu, có khi ở tạng phủ, có khi ở cốt tủy. Nhiệt ở cốt tủy thì không thể không dùng Sài hồ; nếu dùng được Ngân Sài hồ thì chỉ cần một thang, loại ở phương Nam thì lập tức giảm, nên chỉ ba thang là có hiệu nghiệm.”

Tổng kết cách dùng của các loại Sài hồ 

  • Hầu hết các khu vực trên cả nước sử dụng chủ yếu là Bắc sài hồ. Ví dụ, các khu vực như Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến, Thiểm Tây, Cam Túc, và Hoa Bắc (bao gồm Bắc Kinh, Thiên Tân) đều sử dụng Bắc sài hồ khi đơn thuốc chỉ ghi chung chung là “Sài hồ”.
  • Các phương pháp bào chế (như trộn với máy ba ba, tẩm giấm sao, sao với nước) đều sử dụng Bắc sài hồ. Các loại thuốc hoàn tán (như Tiêu Dao Hoàn, Bổ Trung Ích Khí Hoàn, Nhân Sâm Ba Giáp Tiễn Hoàn) cũng sử dụng Bắc sài hồ.
  • Khu vực Giang Tô, Chiết Giang, Thượng Hải thường sử dụng Nam sài hồ. Nếu đơn thuốc chỉ ghi “Sài hồ”, họ sẽ cung cấp Nhuyễn sài hồ. Các phương pháp bào chế và thuốc hoàn tán cũng sử dụng Nhuyễn sài hồ.
  • Bắc Sài hồ dùng sống để giải biểu, lui sốt, sơ can giải uất; sao với giấm để điều kinh, chỉ thống; sao với huyết ba ba (miết huyết) để lui hư nhiệt; sao với rượu để thăng đề, chỉ tả; sao với mật ong để nhuận phế, chỉ khái.
  • Nam Sài hồ dùng sống để trị can uất lao nhiệt. “Lao nhiệt” ở đây không phải là nhiệt do ngoại cảm, cũng không phải nhiệt ở bán biểu bán lý, mà là hư nhiệt; chứng can nhiệt hư nhiệt thì dùng Nam Sài hồ.
  • Ngân Sài hồ chuyên lui âm hư triều nhiệt và cam nhiệt ở trẻ nhỏ.

Quy định sử dụng trong đơn thuốc

Theo “Quy phạm bào chế thuốc Đông y Thượng Hải”:

  • Nếu đơn thuốc ghi Sài hồXuân sài hồNhuyễn sài hồTế sài hồ, sẽ cung cấp Nhuyễn sài hồ.
  • Nếu đơn thuốc ghi Xuyên sài hồTrúc diệp sài hồ, sẽ cung cấp Xuyên sài hồ.
  • Nếu đơn thuốc ghi Hồng sài hồSài hồ đầu, sẽ cung cấp Hồng sài hồ.
  • Nếu đơn thuốc ghi Bắc sài hồThu sài hồNgạnh sài hồ, sẽ cung cấp Bắc sài hồ.

Lịch sử sử dụng Sài hồ

Theo các tài liệu cổ, phần trên mặt đất của Sài hồ được gọi là Sài (柴), phần dưới đất được gọi là Hồ (胡). Ngày xưa, người ta thường dùng rễ làm thuốc, và Bắc sài hồ được coi là loại chính thống.

  • Lý Thời Trân từng nói: “Sài hồ mọc trên núi, non thì dùng làm thuốc, già thì dùng làm củi, nên cây non có tên là Vân hồ, Sơn thái, Như thảo, còn rễ gọi là Sài hồ.”
  • Ông cũng nói: “Sài hồ ở phương Bắc mềm như Tiền hồ, người nay gọi là Bắc sài hồ, dùng làm thuốc rất tốt. Sài hồ ở phương Nam không giống Tiền hồ, giống như rễ cây ngải, cứng và không dùng được.”

Sài hồ và “Sài hồ kiếp can âm”

  • Nam sài hồ và Bắc sài hồ có những điểm chung và đặc điểm riêng do sự khác biệt về chủng loại và bộ phận dùng làm thuốc.
  • “Sài hồ kiếp can âm” (Sài hồ làm tổn thương âm gan) lần đầu được đề cập trong “Trị Thử Toàn Thư” của Trương Tư Nông, sau đó được Diệp Thiên Sĩ và Vương Mạnh Anh nhắc đến.
  • Các danh y như Lý Đông Viên, Trương Cảnh Nhạc, Mậu Trọng Thuần, Trương Thạch Ngoan, Dương Thời Thái đều cho rằng “Sài hồ có tính thăng tán, người âm hư hỏa vượng nên tránh dùng.” Tuy nhiên, các tác giả này không nói rõ họ sử dụng loại Sài hồ nào. Dựa trên tài liệu hiện có, tác giả cho rằng họ có thể đã sử dụng Nam sài hồ.

Đặc điểm chung và riêng của Nam sài hồ và Bắc sài hồ

Điểm chung:

  • Sơ tà giải nhiệt: Điều trị chứng sốt rét, sốt cách nhật.
  • Sơ can giải uất: Điều trị chứng khí trệ ở gan, đau tức ngực, phụ nữ kinh nguyệt không đều.
  • Trừ đàm điều kinh: Điều trị kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh.

Đặc điểm riêng:

  • Bắc sài hồ: Có tác dụng đẩy lùi cái cũ, sinh ra cái mới, giải quyết các chứng khí trệ trong ngực, bụng và dạ dày.
  • Nam sài hồ: Có tác dụng phát hãn giải biểu, thăng thanh dương, phù hợp với chứng ngoại cảm và thanh dương hạ hãn.

Sự khác biệt giữa Sài hồ và Ngân sài hồ

  • Ngân sài hồ: Có vị ngọt, tính hàn, chủ trị chứng lao nhiệt, sốt rét, và nhiệt từ tủy xương.
  • Ngân sài hồ có tác dụng thanh nhiệt mà không làm tổn thương âm, phù hợp với các chứng hư nhiệt.

Tương truyền rằng, vào thời cổ đại, Sài hồ và Ngân Sài hồ từng bị dùng lẫn lộn với nhau. Có một lần, một thương nhân tên là Lưu Hàn đi ngang qua vùng Ngân Châu, thấy trên phố có người bán một loại dược liệu trông giống như Sài hồ. Trong khi đó, quê nhà ông đang cần vị “Sài hồ” này, vì vậy Lưu Hàn đã mua rất nhiều dược liệu ở Ngân Châu mang về quê bán như Sài hồ.

Chỉ ít ngày sau, Lưu Hàn bị người ta tố cáo lên quan huyện vì bán thuốc giả. Hóa ra, người tố cáo vốn mắc bệnh lâu năm, phải uống một thang thuốc; mỗi lần uống đều thấy hiệu nghiệm, trong đó có vị Sài hồ. Lần này mua “Sài hồ” của Lưu Hàn thì lại không thấy hiệu quả, nên đã kiện ông.

Lưu Hàn cảm thấy oan uổng. Quan huyện đang phân vân chưa rõ thực hư, thì có một lão dược sư vào trình bày rõ nguyên do: loại Sài hồ mà Lưu Hàn mua từ Ngân Châu có rễ màu trắng, loại này giỏi thanh hư nhiệt, trừ cam nhiệt; còn Sài hồ ở địa phương các ông lại thiên về giải biểu, lui sốt.

Vì vị thuốc này trông giống Sài hồ, rễ lại có màu trắng, hơn nữa lại sản xuất ở Ngân Châu, nên người ta gọi nó là “Ngân Sài hồ.”

  • Nam sài hồ: Thiên về sơ can hư nhiệt.
  • Bắc sài hồ: Thiên về điều khí, giải biểu và tả can.
  • Ngân sài hồ: Thiên về tư âm, thanh nhiệt và nhu can.

Dù cùng mang danh Sài hồ, nhưng Bắc Sài hồ, Nam Sài hồ và Ngân Sài hồ lại sở hữu những đặc tính dược lý và phạm vi ứng dụng tách biệt. Việc nhận diện đúng hình thái và hiểu rõ công năng của từng loại không chỉ giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị từ giải biểu, sơ can cho đến thanh hư nhiệt mà còn là yếu tố tiên quyết để đảm bảo tính an toàn, tránh các tác dụng phụ không mong muốn như “kiếp can âm” hay tổn thương thận do dùng sai chỉ định. Trong thực hành lâm sàng, sự tinh tế của người thầy thuốc chính là nằm ở việc lựa chọn đúng loại Sài hồ cho từng thể bệnh chuyên biệt.

Bài viết Phân biệt các loại Sài hồ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/phan-biet-cac-loai-sai-ho/feed/ 0
Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/ https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/#respond Thu, 24 Oct 2024 08:21:45 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3196 Mất ngủ là một bệnh rối loạn giấc ngủ có tỷ lệ mắc khá cao trong những năm gần đây. Khi thăm khám, bệnh nhân thường than phiền về các triệu chứng như khó ngủ, thức dậy quá sớm hoặc tỉnh giấc giữa chừng, đồng thời kèm theo các biểu hiện như tâm trạng không [...]

Bài viết Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Mất ngủ là một bệnh rối loạn giấc ngủ có tỷ lệ mắc khá cao trong những năm gần đây. Khi thăm khám, bệnh nhân thường than phiền về các triệu chứng như khó ngủ, thức dậy quá sớm hoặc tỉnh giấc giữa chừng, đồng thời kèm theo các biểu hiện như tâm trạng không tốt, mệt mỏi, và khó tập trung. Những triệu chứng này có thể gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến công việc, cuộc sống và giao tiếp xã hội của bệnh nhân.

Trong y học hiện đại, các loại thuốc an thần và gây ngủ thường được sử dụng để giảm bớt triệu chứng mất ngủ, tuy có hiệu quả nhất định, nhưng việc sử dụng lâu dài có thể dẫn đến tình trạng phụ thuộc thuốc, và những loại thuốc này cũng có tác dụng phụ nhất định. Vì vậy, cần lựa chọn phương án điều trị thích hợp. Y học cổ truyền có lịch sử lâu đời và có nhiều ưu thế trong việc điều trị chứng mất ngủ, đã đạt được hiệu quả điều trị rõ rệt. Bài viết này sẽ trình bày về việc điều trị chứng mất ngủ bằng y học cổ truyền.

1. Biểu hiện của chứng mất ngủ

Chứng mất ngủ bao gồm các triệu chứng như khó vào giấc, tỉnh giấc giữa đêm, hoặc không thể ngủ suốt đêm.

Chất lượng giấc ngủ kém có thể khiến người bệnh dễ cáu gắt, khó chịu, và thậm chí gây ra các triệu chứng như hồi hộp, tim đập nhanh. Nếu mất ngủ kéo dài, nó có thể làm suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể và tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác.

Theo 1 nghiên cứu của Trường Y khoa Đại học Pittsburgh năm 2008 thì phần lớn những người bị trầm cảm đều bị rối loạn giấc ngủ. Trầm cảm cũng chiếm tỷ lệ cao trong số những nhóm người mắc nhiều loại rối loạn giấc ngủ.

2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của mất ngủ

Trong các tài liệu cổ điển, mất ngủ được xếp vào các phạm trù như “bất mị”, “bất đắc ngoạ”, “mục bất minh”, “thất miên” và y học cổ truyền cho rằng căn nguyên bệnh lý cơ bản của căn bệnh này là do sự mất cân bằng âm dương.

Y học cổ truyền đã có hiểu biết từ lâu về chứng mất ngủ. Trong cuốn Kim Quỹ Yếu Lược có ghi rằng “hư phiền bất đắc miên” (tức khó ngủ do tâm phiền), và các tác phẩm như Y Lâm Cải ThácCảnh Nhạc Toàn Thư cũng đều đề cập đến chứng bất mị. Khi phân tích từ góc độ “tà chính”, nguyên nhân của chứng mất ngủ khá phức tạp, bao gồm mất cân bằng âm dương và tâm thần bị xáo trộn. Có một số nguyên nhân chính sau:

2.1. Mất điều hòa dinh vệ (dinh vệ thất điều)

Y học cổ truyền cho rằng, khí dinh vệ có công dụng bồi bổ và nuôi dưỡng cơ thể, có mối liên hệ mật thiết với khí huyết, tạng phủ và tân dịch. Dinh khí chủ yếu là phần âm của tinh khí, còn phần dương được gọi là “vệ khí”. Khi dinh vệ mất điều hòa, sẽ dẫn đến khí huyết khuy hư, chức năng tạng phủ mất cân bằng, và tâm thần bất an, từ đó gây ra các triệu chứng mất ngủ. Trong Hoàng Đế Nội Kinh cũng có đề cập đến mối quan hệ giữa mất điều hòa dinh vệ và chứng mất ngủ.

2.2. Mất cân bằng chức năng tạng phủ

Sự xuất hiện của chứng mất ngủ có liên quan chặt chẽ đến sự mất cân bằng chức năng của các tạng như tâm, can, tỳ, thận. Các yếu tố như áp lực tinh thần và áp lực công việc ảnh hưởng lớn đến chức năng tạng phủ.

  • Khi tâm bất an, vì tâm chủ thần chí, sẽ gây ra chứng mất ngủ.
  • Thận chủ về thủy và là cơ quan quan trọng trong quá trình trao đổi chất, có vai trò cân bằng âm dương, nếu thận hư sẽ phá vỡ sự cân bằng này và gây ra mất ngủ.
  • Can chủ về sự thư giãn, nếu chức năng can suy yếu sẽ gây ứ trệ can khí, kết hợp với trạng thái tình chí bất ổn sẽ dẫn đến khó ngủ về đêm.
  • Tỳ sinh huyết, nếu tỳ tổn thương sẽ làm tiêu hao tâm huyết, gây mất cân bằng khí huyết, tâm thần bất an và dẫn đến mất ngủ. Nếu ăn uống không điều độ, sẽ gây tích tụ đàm nhiệt trong dạ dày, quá trình tiêu hóa bị cản trở, khí cơ ứ trệ, và dẫn đến triệu chứng mất ngủ.

2.3. Mất cân bằng âm dương

Mất cân bằng âm dương được coi là cơ chế bệnh lý chung của chứng mất ngủ. Sự điều hòa âm dương của cơ thể phù hợp với quy luật thay đổi của tự nhiên, và điều này ảnh hưởng đến giấc ngủ của con người. Giấc ngủ khỏe mạnh phụ thuộc vào sự vận hành tự nhiên của âm dương trong cơ thể dưới sự kiểm soát của tâm thần. Nếu âm dương mất cân bằng, sẽ gây tác động tiêu cực đến giấc ngủ.

2.4. Tà khí xâm nhập

Tà khí xâm nhập có thể gây ra sự mất cân bằng âm dương trong cơ thể, làm cho tâm hư thất dưỡng gây ra chứng mất ngủ. Tà khí cũng có thể làm rối loạn chức năng của ngũ tạng, gây mất cân bằng trong cơ thể, và là một trong những cơ chế bệnh lý quan trọng gây ra chứng mất ngủ. Trong Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận có ghi rằng: “Tà khí xâm nhập tạng phủ… âm khí hư, mắt không nhắm được”, chỉ rõ rằng tà khí xâm nhập cơ thể là nguyên nhân chính gây ra chứng bất mị.

3. Điều trị bằng thuốc

Theo y học cổ truyền, tâm chủ huyết mạch, khi khí huyết đủ đầy thì tâm thần an định, do đó trong điều trị thường sử dụng các loại thuốc bổ tâm huyết và an thần.

Toan táo nhân thang

Bài thuốc Toan táo nhân thang có xuất xứ từ Kim quỹ yếu lược, được bào chế từ các vị thuốc như phục linh, tri mẫu, toan táo nhân, cam thảo, xuyên khung… có tác dụng trừ phiền an thần. Nghiên cứu của Tôn Khả Đình và cộng sự chỉ ra rằng, khi kết hợp Toan Táo Nhân Thang với thuốc tây Escitalopram, với các vị bổ sung như chi tử, thiền thoái, và đạm đậu xị, nếu bệnh nhân gặp các triệu chứng như chóng mặt, nhiều mộng mị, dễ tỉnh giấc, thì thêm các vị thuốc như trân châu mẫu, đan sâm. Sử dụng một liều mỗi ngày, uống sáng và tối liên tục trong 2 tháng, hiệu quả điều trị đạt 93.33%, cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ sử dụng thuốc tây (P < 0.05). Toan táo nhân thang có tác dụng bổ khí huyết, bổ thận âm, an thần tĩnh tâm, và khi kết hợp với các vị thuốc như chi tử, thiền thoái, đạm đậu xị, có thể tăng cường tác dụng thư can dưỡng huyết, ích khí an thần, giúp giảm các triệu chứng mất ngủ do can khí uất kết.

Cam mạch đại táo thang

Bài thuốc Cam mạch đại táo thang cũng xuất xứ từ Kim quỹ yếu lược, là phương thuốc đại diện trong điều trị chứng tạng táo ở phụ nữ, có tác dụng dưỡng tâm an thần, điều hòa khí cơ, và có hiệu quả trong việc điều trị chứng mất ngủ do can khí uất kết, tâm thần bất an ở phụ nữ. Thành phần bài thuốc gồm cam thảo, phù tiểu mạch (lúa mì), và đại táo, có thể gia giảm theo triệu chứng. Nếu bệnh nhân bị âm hư hỏa vượng, có thể thêm hoàng liên và a giao, nếu có triệu chứng phiền não thì thêm sài hồ và chi tử. Trong Linh khu – Ngũ vị thiên có đề cập: “Bệnh tim, nên ăn mạch”, do lúa mì giàu vitamin nhóm B, tác động tích cực đến hệ thần kinh và hệ nội tiết của cơ thể, giúp làm dịu các triệu chứng lo âu và trầm cảm kèm theo chứng mất ngủ. Theo dược lý hiện đại, lúa mì có tác dụng chống mệt mỏi, an thần, giảm đau và tăng cường miễn dịch; cam thảo bổ dưỡng tâm khí, đại táo bổ khí, hòa giải, dưỡng ẩm và làm dịu. Nghiên cứu dược lý hiện đại cũng chỉ ra rằng, cam thảo có tác dụng chống loạn nhịp tim, đại táo giúp hạ huyết áp, chống mệt mỏi, toàn bộ bài thuốc có tính bình hòa, bổ tâm, điều can và kiện tỳ, mang lại hiệu quả điều trị tốt cho bệnh nhân mất ngủ, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh.

Bán hạ tả tâm thang

Bài thuốc Bán hạ tả tâm thang xuất xứ từ Thương hàn luận, cho rằng chứng mất ngủ có liên quan mật thiết đến tỳ vị, do đó bài thuốc này được dùng để điều trị chứng mất ngủ do tỳ vị bất hòa. Thành phần chính gồm hoàng cầm, bán hạ, can khương, hoàng liên, và đại táo, có tác dụng điều hòa khí cơ tỳ vị.

  • Bán hạ là quân dược, có tác dụng hóa thấp giáng nghịch, chỉ nôn, tiêu ứ kết, được sử dụng từ lâu trong điều trị mất ngủ. Nghiên cứu dược lý hiện đại cũng chứng minh rằng bán hạ có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, giúp an thần và gây ngủ.
  • Khi kết hợp với can khương, bài thuốc có tác dụng ôn trung tán hàn, chỉ thống.
  • Hoàng cầm và hoàng liên điều hòa âm dương, giúp cân bằng khí cơ, kết hợp với nhân sâm và đại táo để bổ trung ích khí, cam thảo giúp giảm bớt tính nóng của thuốc, từ đó đạt được hiệu quả điều trị mất ngủ.

Hoàng liên a giao thang

Trong Thương hàn luận có đề cập rằng: “Thiếu âm bệnh, mắc từ hai đến ba ngày trở lên, tâm phiền, không ngủ được, dùng Hoàng liên a giao thang chủ trị”, đoạn văn này chủ yếu áp dụng cho những bệnh nhân mất ngủ có cơ chế bệnh lý chính là “thận âm suy hư, tâm hỏa vượng“.

Bài thuốc gồm 5 vị thuốc: hoàng liên, hoàng cầm, a giao, thược dược và lòng đỏ trứng gà. Hoàng liên có tác dụng tả tâm hỏa mạnh mẽ, thược dược bổ âm và bổ huyết, giúp hạ nhiệt và trừ phiền, a giao dưỡng âm dịch, hoàng cầm tăng cường hiệu quả thanh hỏa của hoàng liên, lòng đỏ trứng gà dưỡng thận âm và hạ tâm hỏa.

Nghiên cứu công bố năm 2021 cho thấy, khi điều trị bệnh nhân tiểu đường kết hợp mất ngủ bằng Hoàng Liên A Giao Thang gia giảm, thêm toan táo nhân, long nhãn, bá tử nhân để tư âm thanh nhiệt, dưỡng tâm an thần, đã giúp giảm điểm số chất lượng giấc ngủ PSQI so với nhóm đối chứng một cách rõ rệt (P < 0.05). Điều này cho thấy bài thuốc có hiệu quả trong điều trị mất ngủ và được bệnh nhân công nhận.

Sài hồ long cốt mẫu lệ thang

Sài hồ long cốt mẫu lệ thang là phương thuốc kinh điển từ Thương hàn luận, thường dùng để điều trị chứng thiếu dương bệnh kèm tâm đởm bất an. Thành phần chính bao gồm tiểu sài hồ thang, cam thảo, long cốt, mẫu lệ, và phục linh. Tiểu sài hồ thang có công dụng hòa giải thiếu dương, phù chính khứ tà, điều hòa khí cơ. Khi kết hợp với long cốt và mẫu lệ, hai vị thuốc này có tác dụng trọng trấn an thần, long cốt giúp bình can tiềm dương, mẫu lệ làm mềm kết tụ và giải trừ sự uất ức, cả hai đều có tác dụng an thần. Sài hồ giải uất và thư giãn can khí, chữa các triệu chứng ứ trệ khí cơ do can không sơ tiết, gây ra trầm cảm và mất ngủ. Phục linh bổ tâm tỳ và giúp an thần. Các vị thuốc phối hợp có công dụng sơ can giải uất, trọng trấn an thần. Nghiên cứu dược lý hiện đại chỉ ra rằng, thành phần saponin trong sài hồ có tác dụng an thần và ổn định thần kinh.

Một nghiên cứu năm 2020 cho thấy điều trị Sài hồ gia long cốt mẫu lệ đơn lẻ có hiệu quả hơn các loại thuốc thông thường bằng cách giảm PSQI, cải thiện tỷ lệ hiệu quả lâm sàng, kéo dài tổng thời gian ngủ ddoognf thời tỷ lệ tác dụng phụ cũng thấp hơn so với nhóm đối chứng.

Quy tỳ thang

Quy tỳ thang, xuất xứ từ Nghiêm thị tế sinh phương, chủ yếu bao gồm các vị thuốc như cam thảo, long nhãn, toan táo nhân, hoàng kỳ, đại táo, viễn chí và mộc hương… Toàn bài thuốc có tác dụng bổ khí kiện tỳ, an thần, dưỡng huyết và an tâm. Quy tỳ thang tập trung vào việc điều trị tâm tỳ, vì tỳ hư sẽ làm cho khí huyết không đủ, trong khi tỳ vượng sẽ giúp khí huyết được sinh hóa đầy đủ, từ đó có thể giúp giảm nhẹ các triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

XEM THÊM: QUY TỲ THANG

Điều trị không dùng thuốc

4.1. Phương pháp châm cứu

Châm cứu là một kỹ thuật chăm sóc sức khỏe phổ biến trong y học cổ truyền, có tác dụng điều hòa âm dương và thông kinh mạch. Vì mất ngủ liên quan chặt chẽ đến sự mất cân bằng âm dương, nên áp dụng phương pháp này vào điều trị mất ngủ có thể mang lại kết quả tốt.

Phương pháp châm cứu bổ trợ an thần, bắt đầu từ việc điều trị hai tạng tỳ và thận, kết hợp với Đổng thị kỳ huyệt và kỹ thuật đảo mã châm pháp, châm cứu thông thường, chú trọng cả triệu chứng và căn nguyên, vừa bổ vừa tả, khai thông khí cơ và mạch lạc, bổ ích khí huyết. Khi khí huyết cân bằng, mạch lạc thông suốt, ngũ tạng điều hòa thì tâm thần sẽ an định.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho thấy, sau khi điều trị châm cứu, nồng độ oxyhemoglobin trong não của bệnh nhân mất ngủ không do tổn thương thực thể có sự thay đổi, đặc biệt là ở vùng vỏ não trán và đỉnh. Điều này giúp điều chỉnh sự kích hoạt của các vùng não, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ.

4.2. Phương pháp xoa bóp

Xoa bóp là một phương pháp trị liệu không xâm lấn, có độ an toàn cao trong điều trị mất ngủ. Từ những thủ thuật xao bóp đơn giản cho đến các thủ thuật xao bóp đặc biệt như xoa bóp tạng phủ Tân Cô đều hướng tới 1 mục tiêu là khơi thông kinh lạc, điều hòa những rối loạn chức năng tạng phủ tạo ra sự thông suốt trong vận hành khí huyết, cân bằng âm dương qua đó cải thiện chất lượng giấc ngủ.

Một số phương pháp xao bóp như tác động ấn vào hai mạch xung, nhâm, nhấn vào huyệt Thần Khuyết trên mạch nhâm để duy trì hoạt động bình thường của khí cơ trong cơ thể. Sử dụng phương pháp nắm và vuốt trên mạch đốc để điều hòa khí dinh vệ, cuối cùng dùng phương pháp véo và nắn mạch đới để làm mềm các kinh mạch, giúp khí cơ được lưu thông, âm dương tương hỗ, và tâm thần an tĩnh, giúp dễ ngủ.

Bên cạnh đó việc kết hợp liệu pháp xoa bóp bấm huyệt vùng đầu cổ (huyệt Thái Dương, An Miên, Bách Hội…) với thuốc thang bổ khí dưỡng huyết… sẽ giúp trừ tà khí, thư giãn gân cốt, thông kinh lạc, điều hòa khí huyết ở đầu, giúp não bộ được nuôi dưỡng, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

4.3. Phương pháp sử dụng các huyệt ở tai

Phương pháp dán hạt vương bất lưu hành và ấn huyệt tai là một kỹ thuật thường được sử dụng trong điều trị chứng mất ngủ. Phương pháp này có tác dụng điều chỉnh chức năng của các tạng phủ và kinh mạch trong cơ thể, giúp chúng hoạt động bình thường, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ. Theo quan niệm y học cổ truyền, mười hai kinh mạch của cơ thể đều liên kết với tai, vì vậy, việc kích thích các huyệt vị tương ứng trên tai có thể giúp thông kinh mạch. Một số huyệt được lựa chọn như Thần môn, Giao cảm, Tâm huyệt, Can huyệt, Tỳ huyệt. Trong đó

  • Thần môn là huyệt chính điều trị mất ngủ có tác dụng bổ tâm dưỡng huyết, nhu dưỡng tâm thần.
  • Phối với huyệt Giao cảm có tác dụng dưỡng tâm ngưng thần, ích âm thanh nhiệt.
  • Tâm huyệt hoạt huyết hành huyết.
  • Can huyệt sơ can lý khí.
  • Thận huyệt giao thông tâm thận.
  • Tỳ huyệt dưỡng huyết sinh mạch.

Việc sử dụng miếng dán hạt vương bất lưu hành vào các vùng huyệt trên tai có thể tác động đến các dây thần kinh liên quan đến giấc ngủ, đồng thời giúp điều hòa âm dương, điều hòa khí huyết, điều hòa chức năng tạng phủ.

Việc ấn hạt vương bất lưu hành với lực, tần suất khác nhau có thể tạo ra các kích thích khác nhau tương đương với phép bổ tả trong y học cổ truyền. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ấn nhẹ hạt vương bất lưu hành và day chậm kích thích nhẹ nhàng trên các huyệt vùng tai có hiệu quả tốt trong điều trị mất ngủ do tâm tỳ hư.

4.4. Phương pháp cứu ngải

Cứu ngải là một phần quan trọng trong y học cổ truyền, có tác dụng bổ dương, trừ hàn, ôn kinh, và thông kinh mạch.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng châm cứu kết hợp với cứu ngải có tác dụng rõ ràng đối với chứng mất ngủ sau đột quỵ.

Một nghiên cứu của Hình Việt và Khổng Mã Lệ cũng cho thấy khi điều trị cho bệnh nhân sau đột quy, kết hợp châm cứu ngũ tạng du (Tâm du, Phế du, Tỳ du, Thận du, Can du) và cứu ngải huyệt Dũng tuyền sau 4 tuần bệnh nhân đã giảm đáng kể các triệu chứng mất ngủ, mệt mỏi, hồi hộp, mức serotonin 5-HT và dopamine giảm rõ rệt. Cứu ngải huyệt Dũng tuyền giúp cải thiện tuần hoàn máu cục bộ, kích thích sự lưu thông của tâm hỏa, dẫn hỏa quy nguyên và giao thông tâm thận, từ đó cải thiện chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân.

Phương pháp cứu ngải vùng bụng tác động lên mạch Nhâm, một phần kinh thận và kinh vị đi qua. Phương pháp cứu ngải ôn ấm, kết hợp với tác dụng của ngải cứu được truyền qua cơ thể, giúp bổ khí dưỡng huyết, bồi bổ nguyên khí, cân bằng âm dương. Khi kết hợp với châm cứu, phương pháp này có thể nâng cao hiệu quả lâm sàng, giúp giảm triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

Mất ngủ là căn bệnh phổ biến trong quá trình phát triển xã hội hiện nay, không chỉ thường gặp ở người cao tuổi mà tỷ lệ mắc bệnh cũng đang có xu hướng trẻ hóa. Nếu không được chú trọng, mất ngủ có thể gây hại đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Các phương pháp điều trị trong y học hiện đại còn đơn điệu và không nên sử dụng thuốc trong thời gian dài. Y học cổ truyền, như một phương pháp quan trọng, với việc điều trị bằng cách biện chứng luận trị, có thể điều chỉnh chức năng tạng phủ ở nhiều mức độ và đa mục tiêu, từ đó cải thiện tình trạng bệnh. Các phương pháp điều trị bên ngoài như châm cứu, nhĩ châm mang lại cảm giác thoải mái và dễ thực hiện, tạo ra những lợi thế nhất định trong điều trị mất ngủ.

BS Uông Mai tổng hợp

Bài viết Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/feed/ 0
Giải pháp điều trị mất ngủ vừa an toàn vừa hiệu quả https://vanquocduocvuong.vn/giai-phap-dieu-tri-mat-ngu-vua-an-toan-vua-hieu-qua/ https://vanquocduocvuong.vn/giai-phap-dieu-tri-mat-ngu-vua-an-toan-vua-hieu-qua/#respond Fri, 18 Oct 2024 16:34:43 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3193 Mất ngủ chủ yếu biểu hiện qua: khó đi vào giấc ngủ, dễ tỉnh giấc, dậy sớm, và có thể gặp ở nhiều loại bệnh, trong đó phổ biến nhất là rối loạn mất ngủ (thường gọi là “chứng mất ngủ”). Ngoài rối loạn mất ngủ, nhiều bệnh lý cơ thể, rối loạn tâm thần [...]

Bài viết Giải pháp điều trị mất ngủ vừa an toàn vừa hiệu quả đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Mất ngủ chủ yếu biểu hiện qua: khó đi vào giấc ngủ, dễ tỉnh giấc, dậy sớm, và có thể gặp ở nhiều loại bệnh, trong đó phổ biến nhất là rối loạn mất ngủ (thường gọi là “chứng mất ngủ”). Ngoài rối loạn mất ngủ, nhiều bệnh lý cơ thể, rối loạn tâm thần và rối loạn giấc ngủ khác cũng có thể gây ra mất ngủ, như: cường giáp, trầm cảm, lo âu, hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (thường gọi là “chứng ngáy”), hội chứng chân không yên…. Ngoài bệnh lý, khi gặp các sự kiện không vui trong cuộc sống, căng thẳng, tức giận, con người cũng dễ gặp phải tình trạng mất ngủ. Điều trị mất ngủ chủ yếu bao gồm hai khía cạnh: điều trị nguyên nhân và điều trị triệu chứng.

Điều trị nguyên nhân

Mất ngủ có nhiều nguyên nhân, vì vậy trước tiên cần tìm ra nguyên nhân gốc rễ của mất ngủ với sự giúp đỡ của bác sĩ. Khi nguyên nhân chính được điều trị, tình trạng mất ngủ sẽ được cải thiện.

Nếu nguyên nhân là trầm cảm, thường biểu hiện qua tâm trạng uể oải, không hứng thú, mệt mỏi, thì sau khi điều trị trầm cảm, tâm trạng bệnh nhân cải thiện, giấc ngủ cũng được cải thiện.

Nếu nguyên nhân là hội chứng chân không yên, thường biểu hiện qua cảm giác khó chịu ở chân như đau, nhức, ngứa, hoặc co giật vào buổi tối, thì sau khi bổ sung dopamine hoặc điều trị phù hợp, tình trạng này sẽ biến mất và giấc ngủ cũng được cải thiện.

Nếu mất ngủ do các sự kiện không vui, căng thẳng hay tức giận, thì cần điều chỉnh tâm lý.Làm thế nào để điều chỉnh tâm lý?

Việc phát triển cách nhìn tích cực và học cách thể hiện cảm xúc tiêu cực là hai phương pháp tự điều chỉnh tâm lý phổ biến nhất.

Phát triển cách nhìn tích cực

Bất cứ sự việc gì cũng có mặt tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, nhiều người thường chỉ thấy khía cạnh tiêu cực của vấn đề, khiến họ dễ tức giận và căng thẳng. Ví dụ, khi mất một món đồ, họ thường nghĩ rằng mình xui xẻo và lo lắng, mà không nhìn nhận theo cách “trong cái rủi có cái may”. Hoặc khi gặp một công việc thách thức, họ thường nghĩ rằng mình không đủ khả năng hoàn thành, mà không thấy được thách thức là động lực để phát triển bản thân. Nếu chúng ta có thể thay đổi cách suy nghĩ, nhìn nhận sự việc từ mặt tích cực, tâm trạng của chúng ta sẽ tốt hơn, từ đó tránh được mất ngủ do căng thẳng và các sự kiện trong cuộc sống gây ra.

Học cách thể hiện cảm xúc tiêu cực

Mỗi người đều có thể trải qua những cảm xúc tiêu cực như chán nản, tức giận, uất ức, buồn bã…. Khi những cảm xúc tiêu cực này xuất hiện, nếu chúng ta không thể thể hiện chúng kịp thời, điều đó sẽ gây hại cho cả thể chất lẫn tinh thần. Vậy làm thế nào để thể hiện chúng? Có một số cách chính như sau:

  • tâm sự với người thân, bạn bè hoặc chuyên gia tâm lý;
  • tập thể dục, du lịch hoặc hét lớn ở nơi thoáng đãng;
  • viết ra cảm xúc tiêu cực của mình, chẳng hạn như viết nhật ký cảm xúc;
  • hoặc thực hành thiền định để nhận thức rõ cảm xúc của mình trong quá trình thiền.

Mọi người có thể lựa chọn một hoặc nhiều phương pháp phù hợp với bản thân để thể hiện cảm xúc tiêu cực.

Điều trị triệu chứng

Điều trị triệu chứng chủ yếu bao gồm hai phương diện: điều trị bằng thuốc và điều trị hành vi.

Điều trị bằng thuốc

Các loại thuốc điều trị mất ngủ chủ yếu bao gồm

  • nhóm thuốc an thần gây ngủ thuộc họ benzodiazepine (như estazolam, alprazolam, diazepam, clonazepam, v.v.)
  • nhóm thuốc không phải benzodiazepine (như zolpidem, zopiclone, eszopiclone, zaleplon, v.v.).
  • Ngoài ra, còn có một số loại thuốc chống trầm cảm và thuốc chống loạn thần có tác dụng an thần như mirtazapine, trazodone, doxepin, quetiapine, olanzapine, v.v.

Bệnh nhân cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ để lựa chọn loại thuốc phù hợp, tránh tự ý sử dụng thuốc.

Thuốc an thần gây ngủ đều có khả năng gây nghiện ở mức độ nhất định, và nếu sử dụng không đúng cách, có thể dẫn đến lệ thuộc thuốc. Vậy làm thế nào để tránh nghiện thuốc an thần gây ngủ? Điều quan trọng là nắm vững những nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng thuốc an thần gây ngủ, bao gồm:

  • Ngắn hạn: Sử dụng thuốc an thần gây ngủ trong thời gian ngắn thường không dẫn đến nghiện. Tuy nhiên, nếu dùng lâu dài, nguy cơ nghiện sẽ tăng lên. Sử dụng ngắn hạn nghĩa là không nên dùng liên tục quá 4 tuần.
  • Liều nhỏ: Liều lượng thuốc an thần gây ngủ càng lớn, nguy cơ nghiện càng cao. Vì vậy, cần sử dụng liều thấp nhất có thể để cải thiện giấc ngủ và không vượt quá liều tối đa cho phép. Nếu hiệu quả giảm dần, nên chuyển sang loại thuốc khác có cơ chế tác dụng khác.
  • Ngắt quãng: Nguy cơ nghiện thuốc khi sử dụng liên tục cao hơn nhiều so với khi dùng ngắt quãng. Do đó, không nên uống thuốc mỗi ngày. Hãy cố gắng tự mình đi vào giấc ngủ, và chỉ dùng thuốc khi thực sự không thể ngủ được, thay vì dùng thuốc theo thói quen trước khi ngủ. Nếu không thể từ bỏ thuốc an thần, hãy thử phương pháp “ngừng thuốc vào cuối tuần”, nghĩa là dùng thuốc vào các ngày làm việc để đảm bảo giấc ngủ, nhưng không dùng vào cuối tuần khi không có lịch trình quan trọng.
  • Theo nhu cầu: Sau khi tình trạng mất ngủ được cải thiện, nếu thỉnh thoảng lại xuất hiện mất ngủ do những sự kiện lớn, thay đổi múi giờ, v.v., có thể tạm thời dùng thuốc an thần gây ngủ để giúp đi vào giấc ngủ, tránh để một đợt mất ngủ ngắn hạn khiến bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

Điều trị hành vi

Điều trị hành vi là phương pháp điều trị ưu tiên cho chứng mất ngủ, bao gồm các kỹ thuật kiểm soát kích thích, hạn chế giấc ngủ, luyện tập thư giãn và tạo thói quen ngủ lành mạnh.

Điều trị kiểm soát kích thích

Trong điều kiện bình thường, môi trường phòng ngủ và giường sẽ tạo ra cảm giác buồn ngủ, giúp con người dễ dàng chìm vào giấc ngủ. Tuy nhiên, đối với người bị mất ngủ, khi vào phòng ngủ và nằm trên giường, não bộ lại trở nên kích thích và khó ngủ. Điều trị kiểm soát kích thích nhằm mục đích điều chỉnh lại phản xạ có điều kiện này, thiết lập lại mối liên hệ giữa phòng ngủ, giường và giấc ngủ nhanh. Yêu cầu cụ thể là:

  • Đi ngủ khi cảm thấy buồn ngủ.
  • Không lên giường quá sớm khi chưa buồn ngủ, chỉ lên giường khi có cảm giác buồn ngủ; nếu không thể ngủ sau 20 phút nằm trên giường, hãy rời khỏi giường, thực hiện bài tập thư giãn hoặc làm điều gì đó thư giãn. Khi cảm thấy buồn ngủ, quay lại giường và thử ngủ lại. Nếu sau 20 phút vẫn không thể ngủ, tiếp tục rời khỏi giường để thư giãn và lặp lại quy trình này.
  • Cấm thực hiện các hoạt động không liên quan đến giấc ngủ trên giường, chẳng hạn như ăn uống, xem điện thoại di động hoặc TV, đọc sách, nghe đài và suy nghĩ về những vấn đề phức tạp, v.v.
  • Duy trì thời gian thức dậy đều đặn. Dù đêm trước ngủ không ngon, vẫn cần phải thức dậy đúng giờ vào ngày hôm sau. Tránh ngủ bù hay ngủ trưa vào ngày hôm sau.

Liệu pháp này thiết lập lại phản xạ có điều kiện lành tính giữa thức và ngủ và được khuyến cáo là phương pháp điều trị không dùng thuốc “tiêu chuẩn” cho những trường hợp khó ngủ và khó duy trì giấc ngủ.

Điều trị hạn chế giấc ngủ

Phương pháp này hạn chế thời gian nằm trên giường nhằm tích lũy động lực cho giấc ngủ. Càng rời giường và giữ cho mình tỉnh táo lâu, động lực cho giấc ngủ càng lớn và dễ dàng đi vào giấc ngủ hơn. Trước khi thực hiện phương pháp này, cần đánh giá khả năng ngủ thực tế của bệnh nhân, tức là tính toán thời gian trung bình họ thực sự ngủ trong tuần gần đây. Sau đó, điều chỉnh thời gian nằm trên giường phù hợp với thời gian trung bình này.

  • Giảm thời gian trên giường để thời gian trên giường phù hợp với thời gian ngủ thực tế. Khi hiệu quả giấc ngủ được duy trì trên 85% trong ít nhất 1 tuần, thời gian trên giường có thể tăng thêm từ 15 đến 20 phút;
  • Khi hiệu quả giấc ngủ thấp hơn 80% Giảm thời gian trên giường từ 15 đến 20 phút
  • Giữ nguyên thời gian trên giường khi hiệu quả giấc ngủ từ 80% đến 85%
  • Ngủ trưa đều đặn không quá 30 phút; , tránh những giấc ngủ ngắn vào ban ngày và duy trì thời gian thức dậy đều đặn.

Ví dụ: nếu bệnh nhân trung bình ngủ 6 tiếng mỗi ngày trong tuần qua, thì thời gian nằm trên giường sẽ bị giới hạn ở mức 6 tiếng. Khuyến nghị bệnh nhân đi ngủ lúc 11 giờ tối và dậy lúc 5 giờ sáng, thời gian còn lại không nằm trên giường. Dù thời gian và chất lượng giấc ngủ có kém đến đâu, vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt giờ giấc đi ngủ và dậy. Khi chất lượng giấc ngủ cải thiện, có thể dần dần kéo dài thời gian nằm trên giường, mỗi tuần tăng thêm 15 phút cho đến khi trở lại thời gian ngủ bình thường.

Luyện tập thư giãn

Luyện tập thư giãn nhằm giảm bớt căng thẳng thể chất và tinh thần trước khi ngủ. Các phương pháp phổ biến nhất bao gồm thư giãn cơ bắp tiến triển, tập thở và thiền định.

Liệu pháp thư giãn nhằm mục đích cải thiện chứng mất ngủ bằng cách giảm các kích thích tự phát, căng cơ và những suy nghĩ cản trở giấc ngủ ở người mất ngủ.

XEM THÊM: Thư giãn bằng các bài tập thở – liệu pháp đơn giản tốt cho phổi

Tạo thói quen ngủ lành mạnh

  • Thực hiện các hoạt động thể chất thường xuyên, tránh vận động mạnh trong vòng hai giờ trước khi ngủ;
  • Kiểm soát lượng tiêu thụ cà phê và trà, tránh uống trong vòng 8 giờ trước khi ngủ;
  • Không dùng rượu để gây ngủ;
  • Ăn bữa tối dễ tiêu hóa, tránh ăn quá no hoặc quá đói;
  • Không thực hiện các hoạt động không liên quan đến giấc ngủ trên giường hoặc trong phòng ngủ, chẳng hạn như đọc sách, dùng điện thoại, xem tivi, nghe nhạc;
  • Tránh tham gia vào các hoạt động quá kích thích trước khi ngủ, như xem phim truyền hình hoặc phim điện ảnh có cốt truyện căng thẳng, nghe nhạc rock, hoặc tham gia các cuộc tranh luận.

Điều trị bằng y học cổ truyền Trung Quốc

Các liệu pháp không dùng thuốc được y học cổ truyền sử dụng để điều trị chứng mất ngủ bao gồm châm cứu, xoa bóp, giác hơi, bấm huyệt, điện châm, nhĩ châm, thủy châm…. Thông qua các phương pháp điều trị không dùng thuốc ở trên, người mất ngủ có thể cải thiện tình trạng của mình mà không cần dùng thuốc, điều này rất đáng để thử. 

Bài viết Giải pháp điều trị mất ngủ vừa an toàn vừa hiệu quả đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/giai-phap-dieu-tri-mat-ngu-vua-an-toan-vua-hieu-qua/feed/ 0
Những nghiên cứu mới về bài thuốc Quy tỳ thang https://vanquocduocvuong.vn/nhung-nghien-cuu-moi-ve-bai-thuoc-quy-ty-thang/ https://vanquocduocvuong.vn/nhung-nghien-cuu-moi-ve-bai-thuoc-quy-ty-thang/#respond Fri, 18 Oct 2024 15:45:53 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3184 Đôi nét về lịch sử Quy tỳ thang và phụ phương Lịch sử bài thuốc Quy tỳ thang Quy tỳ thang lần đầu tiên được ghi chép trong “Tế sinh phương” của Nghiêm Dụng Hòa thời Tống (năm 1253, về sau còn được gọi là Tế sinh quy tỳ thang), nguyên văn trong sách viết: [...]

Bài viết Những nghiên cứu mới về bài thuốc Quy tỳ thang đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Đôi nét về lịch sử Quy tỳ thang và phụ phương

Lịch sử bài thuốc Quy tỳ thang

Quy tỳ thang lần đầu tiên được ghi chép trong “Tế sinh phương” của Nghiêm Dụng Hòa thời Tống (năm 1253, về sau còn được gọi là Tế sinh quy tỳ thang), nguyên văn trong sách viết: “Quy tỳ thang trị tư lự quá độ, lao tổn tâm tỳ, hay quên và hồi hộp.”

Đến thời Tống, Dương Sĩ Doanh trong “Nhân trai trực chỉ phương” (năm 1264) bổ sung thêm: “Quy tỳ thang trị tư lự tổn thương tỳ, không thể thống nhiếp tâm huyết, dẫn đến phản hành, hoặc nôn ra máu, đi ngoài ra máu.”

Vào thời Nguyên, Nguy Diệc Lâm trong “Thế y đắc hiệu phương” (năm 1337) lại phát triển thêm: “Quy tỳ thang trị tư lự tổn thương tỳ, hay quên, vì tỳ không thể thống nhiếp tâm huyết, huyết vong hành, hoặc nôn ra máu, đi ngoài ra máu.”

Qua sự giải thích của hai tác phẩm này, thuyết “tỳ không thống nhiếp tâm huyết” đã được phát triển thành “tỳ không thống huyết” trong thời Minh và Thanh, và trở thành một trong những lý luận cơ bản thường được trích dẫn trong lâm sàng trị liệu các bệnh chứng liên quan đến máu của y học cổ truyền ngày nay.

Phụ phương của Quy tỳ thang

Bài thuốc gốc Tế sinh quy tỳ thang gồm 10 vị thuốc: Bạch truật, Phục linh, Hoàng kỳ, Long nhãn, Toan táo nhân, Nhân sâm, Mộc hương, Cam thảo, Sinh khương và Đại táo.

Các y gia đời sau đã tùy chứng mà gia giảm, như đời Minh, Tiết Lập Trai trong “Giáo chú phụ nhân lương phương” thêm Đương quy và Viễn chí vào phương để trị các chứng bệnh của phụ nữ, đó là Quy tỳ thang thường dùng trong lâm sàng ngày nay.

Nếu thêm Đan bì và Chi tử thì được bài thuốc Gia vị quy tỳ thang (trong “Y giản”) để trị các chứng uất kết tổn thương tỳ.

Thêm Thục địa vào Tế sinh quy tỳ thang sẽ được bài thuốc Hắc quy tỳ thang (trong “Ngân hải chỉ nam”).

Đời Minh, “Cảnh Nhạc toàn thư” phát triển thành Quy tỳ hoàn, và đời Thanh, “Lịch khoa toàn thư” phát triển ra Gia giảm quy tỳ thang.

Phân tích sơ qua về cấu trúc bài thuốc Quy tỳ thang

Hoàng kỳ và Long nhãn nhục là quân dược, bổ tỳ ích khí, dưỡng tâm an thần;

Nhân sâm và Bạch truật giúp Hoàng kỳ ích khí sinh huyết; Đương quy hỗ trợ Long nhãn nhục bổ huyết dưỡng tâm, cả ba là thần dược.

Toan táo nhân, Phục linh (thường dùng Phục thần) và Viễn chí có thể an thần; Mộc hương lý khí tỉnh tỳ, bốn vị này là tá dược.

Cam thảo sao là sứ dược, điều hòa các vị thuốc; thêm Sinh khương và Đại táo giúp điều hòa tỳ vị.

XEM THÊM: Sản phẩm Quy tỳ cao

Quy tỳ thang chữa các chứng bệnh gì?

Các y gia qua nhiều đời đã sử dụng rộng rãi Quy tỳ thang để trị các chứng tư lự quá độ, lao tổn tâm tỳ gây nên hồi hộp, hay quên, kinh sợ, đổ mồ hôi trộm, mệt mỏi, thích nằm, mất ngủ, ăn ít, đầu óc choáng váng, sắc mặt nhợt nhạt, hoặc tỳ hư không thể nhiếp huyết gây xuất huyết, kinh nguyệt không đều ở phụ nữ, băng lậu đới hạ, đau bụng, sốt nhẹ, cơ thể đau nhức, đại tiện không đều, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch nhỏ và yếu. Ngày nay, bài thuốc này thường được dùng để điều trị các bệnh về tim mạch, hệ thần kinh, huyết học và phụ khoa.

1. Bệnh tim mạch

Quy tỳ thang kết hợp với thuốc Tây trong điều trị bệnh tim mạch, đặc biệt có hiệu quả tốt đối với chứng rối loạn nhịp tim, suy tim, bệnh động mạch vành và cao huyết áp, đặc biệt hiệu quả với thể tâm tỳ lưỡng hư. Tuy nhiên, đối với các triệu chứng xuất huyết do đàm nhiệt, Quy tỳ thang không thích hợp.

Phùng (2021) và cộng sự đã phân tích hệ thống về hiệu quả của Quy tỳ thang kết hợp với metoprolol trong điều trị rối loạn nhịp tim từ năm 2012 đến 2018, kết quả cho thấy kết hợp đông và tây y có hiệu quả tốt hơn so với chỉ sử dụng thuốc Tây (p < 0.05), nhưng tỷ lệ phản ứng phụ không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê.

Quy tỳ thang kết hợp thuốc Tây điều trị suy tim thể khí hư huyết ứ có thể tăng cường khả năng co bóp cơ tim, cải thiện chức năng tim, và cải thiện mức BNP (B-type Natriuretic Peptide) và hs-CRP (hypersensitive C-Reactive Protein). Hiệu quả điều trị kết hợp cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (p < 0.05).

Quy tỳ thang kết hợp thuốc Tây điều trị cao huyết áp, sau điều trị, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt so với nhóm đối chứng (p < 0.05), hiệu quả cải thiện huyết áp và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao huyết áp.

2. Các bệnh về hệ thần kinh

Mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư

Mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư (thường gặp các triệu chứng như chán ăn, mệt mỏi, tim đập nhanh, hay quên và hay mơ, dễ tỉnh giấc) có thể do rối loạn cảm xúc, ăn uống không điều độ, lao động không hợp lý và cơ thể suy yếu. Khi tỳ vị bị tổn thương, khí huyết không đủ, dẫn đến tâm huyết hư, không thể nuôi dưỡng tâm tỳ, gây ra tình trạng mất ngủ. Do đó, Quy tỳ thang có tác dụng dưỡng tâm an thần, điều trị hiệu quả chứng mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư.

Các nghiên cứu dược lý hiện đại phát hiện rằng Quy tỳ thang có tác dụng an thần, giúp giảm lo lắng thần kinh và tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ bệnh nhân nhanh chóng đi vào giấc ngủ hiệu quả. Khi sử dụng Quy tỳ thang gia giảm để điều trị mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư, chỉ số đánh giá chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) của bệnh nhân và tỷ lệ tác dụng phụ thấp hơn so với nhóm điều trị bằng thuốc Tây. Thời gian ngủ tổng thể được kéo dài đáng kể, tỷ lệ vào giấc trong vòng một giờ đạt 80-90%, tổng hiệu quả điều trị đạt 90% (p < 0.05). Bài thuốc này cũng có thể cải thiện tình trạng mất ngủ và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh Parkinson. Hoạt chất chính của Quy tỳ thang là adenosine, và các gen mục tiêu chính là NR3C1, MAPK3, PPARA, tác động thông qua các con đường chuyển hóa và tín hiệu cAMP để điều trị thiếu ngủ.

Trầm cảm

Đối với bệnh nhân trầm cảm, việc sử dụng kết hợp thuốc chống trầm cảm và Quy tỳ thang giúp cải thiện tình trạng bệnh.

Nhóm điều trị kết hợp với Quy tỳ thang và nhóm điều trị bằng thuốc Tây đều có sự giảm điểm đáng kể trên thang đo trầm cảm Hamilton (HAM-D), thang đo trầm cảm tự đánh giá (SDS) và PSQI so với trước điều trị (p < 0.05), và nhóm điều trị kết hợp có điểm số thấp hơn đáng kể so với nhóm chỉ dùng thuốc Tây (p < 0.05). Hiệu quả điều trị của nhóm kết hợp (97.14%) cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ dùng thuốc Tây (77.78%) (p < 0.05), và tỷ lệ tác dụng phụ cũng thấp hơn đáng kể (p < 0.05). Quy tỳ thang giúp cải thiện tình trạng trầm cảm và nâng cao chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân.

Wei (2023) và cộng sự đã phân tích các thành phần hoạt tính, mục tiêu và cơ chế tác động của sự kết hợp Toan táo nhân – Phục linh – Long nhãn trong Quy tỳ thang, phát hiện các hợp chất chủ chốt như (S)-norzanthoxylin, coumestrol, n-trans-feruloyltyramine, ellagic acid, harmine và tartaric acid có vai trò quan trọng trong việc điều trị trầm cảm. Những hợp chất này giúp giảm phản ứng viêm, ức chế các cytokine gây viêm và giảm quá trình chết tế bào, nhờ đó điều chỉnh tình trạng trầm cảm. Chúng giúp giảm sự biểu hiện của các yếu tố gây viêm như TNF-α, MAPK và CTNNB1, giảm phản ứng viêm và đóng vai trò quan trọng trong điều trị trầm cảm. Các con đường liên quan đến trầm cảm bao gồm tương tác ligand-receptor, con đường tín hiệu canxi, cAMP và các con đường liên quan đến các bệnh thoái hóa thần kinh khác.

Liu (2023) và cộng sự đã phát hiện Quy tỳ thang có thể điều chỉnh các gen như EGF, PPARG, IL-10 và CRP, giúp điều trị trầm cảm kết hợp với các bệnh đường tiêu hóa.

Thoái hóa thần kinh não

Khi sử dụng Gia vị Quy tỳ thang để điều trị suy giảm nhận thức nhẹ (MCI), điểm đánh giá trung bình trên thang lâm sàng đánh giá sa sút trí tuệ (CDR-SB) của nhóm điều trị đã cải thiện rõ rệt từ 1.53 xuống còn 1.13 (p = 0.01), trong khi nhóm dùng giả dược giảm từ 1.61 xuống còn 1.75, sự khác biệt về điểm số lâm sàng giữa hai nhóm có ý nghĩa đáng kể (p = 0.045), chứng tỏ Gia vị Quy tỳ thang an toàn và hiệu quả trong điều trị suy giảm nhận thức nhẹ.

Ở bệnh nhân Alzheimer được điều trị bằng chất ức chế acetylcholinesterase, kết hợp với Quy tỳ thang, các điểm số trên thang đo MMSE-J và RBANS-J đều được cải thiện, cho thấy Quy tỳ thang có thể cải thiện chức năng nhận thức của bệnh nhân Alzheimer.

Phùng (2022) và cộng sự đã nghiên cứu hiệu quả của Quy tỳ thang trên chuột bị thoái hóa thần kinh do tiểu đường, kết quả cho thấy bằng cách điều chỉnh con đường tín hiệu NF-κB/PI3K, giảm sản xuất IL-6 và tăng biểu hiện của IKKα và PI3K (p < 0.05), Quy tỳ thang giúp giảm viêm và cải thiện tình trạng bệnh.

Các bệnh về hệ thống máu

Hứa (2021) quan sát bệnh nhân cường giáp kèm theo giảm bạch cầu, Trần (2021) và các cộng sự nghiên cứu giảm bạch cầu do thuốc chống lao gây ra, cả hai nhóm đều sử dụng thuốc Tây kết hợp với Quy tỳ thang. Kết quả cho thấy, số lượng tế bào bạch cầu, số lượng bạch cầu trung tính và hiệu quả điều trị ở nhóm kết hợp đông và tây y cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ điều trị bằng thuốc Tây (p < 0.05).

Diệp (2023) và các cộng sự nghiên cứu tác dụng của Quy tỳ thang trong điều trị bệnh ban xuất huyết dị ứng ở trẻ em, các thành phần hoạt tính chính như betulin, 1-Tetradecanol và adenosine triphosphate có khả năng điều chỉnh chức năng miễn dịch, trong khi stigmasterol và β-ionone điều chỉnh phản ứng viêm thông qua con đường tín hiệu PI3K/AKT. Các mục tiêu chính bao gồm TGF-β1 và TNF, sự mất cân bằng của hai yếu tố này là yếu tố chính gây bệnh, các mục tiêu khác bao gồm IL-6, IL-17A và FOXP3.

Lee (2015) và các cộng sự nghiên cứu tác dụng phòng ngừa hình thành mạch máu bệnh lý võng mạc của Quy tỳ thang, trên mô hình chuột bị bệnh lý võng mạc do oxy hóa (OIR), điều trị bằng Quy tỳ thang làm giảm đáng kể sự biểu hiện của các yếu tố VEGF, FGF2 và PAI-1 mRNA, từ đó giảm hình thành mạch máu bệnh lý ở võng mạc chuột.

Các bệnh phụ khoa

Các bệnh phụ khoa có liên quan mật thiết đến công năng khí huyết ở phụ nữ. Quy tỳ thang được ứng dụng điều trị các bệnh phụ khoa như rối loạn chu kỳ kinh nguyệt do tâm tỳ lưỡng hư, kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, mất ngủ tiền mãn kinh, thiếu sữa sau sinh, với hiệu quả lâm sàng tốt.

Sử dụng Quy tỳ thang gia giảm kết hợp liệu pháp âm nhạc Ngũ hành để điều trị mất ngủ tiền mãn kinh cho kết quả hiệu quả đạt 89.66%, cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ dùng Quy tỳ thang hoặc liệu pháp âm nhạc đơn thuần (p < 0.05), điểm số PSQI và MRS của nhóm điều trị kết hợp cũng thấp hơn rõ rệt so với hai nhóm còn lại (p < 0.05).

Do phụ nữ lớn tuổi khí huyết dần suy yếu, đối mặt với áp lực công việc và gia đình làm tổn thương tỳ, khiến tỳ vị hư yếu, dẫn đến khí huyết không đủ, gây táo bón. Dương (2019) áp dụng khái niệm “phòng bệnh trước khi bệnh xảy ra” trong “Nội kinh” để điều trị táo bón ở phụ nữ tiền mãn kinh bằng Quy tỳ thang, giúp điều hòa khí huyết và cải thiện tình trạng táo bón của bệnh nhân.

Các bệnh khác

Trương (2022) và các cộng sự nghiên cứu việc kết hợp đông và tây y để điều trị lupus ban đỏ hệ thống (SLE) dạng nhẹ, áp dụng các bài thuốc đông y khác nhau cho ba chứng bệnh phổ biến của đông y, trong đó, đối với bệnh nhân thể khí huyết hư, sử dụng kết hợp Quy tỳ thang gia giảm và thuốc Tây. So với trước điều trị, lượng glucocorticoid sử dụng của bệnh nhân (p < 0.01) và mức kháng thể dsDNA (p < 0.05) giảm đáng kể, trong khi mức bổ thể C3 và C4 tăng đáng kể (p < 0.01). Tuy nhiên, hiệu quả điều trị sau cùng giữa nhóm điều trị kết hợp và nhóm chỉ điều trị bằng thuốc Tây không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Tóm lại, qua các nghiên cứu ứng dụng lâm sàng hiện đại, đối với các bệnh nhân có các chứng khí huyết lưỡng hư, khí huyết hư suy, khí hư huyết ứ theo đông y, việc sử dụng Quy tỳ thang kết hợp với điều trị bằng y học hiện đại cho hiệu quả tốt hơn. Tuy nhiên, ngoại trừ chứng mất ngủ, các bệnh khác thường kết hợp điều trị bằng thuốc Tây, ít có nghiên cứu độc lập về việc chỉ dùng Quy tỳ thang để kiểm chứng hiệu quả điều trị của nó, do đó cần thêm các nghiên cứu và chứng minh trong tương lai.

Nguồn: Viện nghiên cứu trung y dược quốc gia – Bộ vệ sinh phúc lợi Đài Loan

https://www.nricm.edu.tw/p/406-1000-7224,r11.php?Lang=zh-tw

BS Uông Mai dịch

Bài viết Những nghiên cứu mới về bài thuốc Quy tỳ thang đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/nhung-nghien-cuu-moi-ve-bai-thuoc-quy-ty-thang/feed/ 0
Thư giãn bằng các bài tập thở – liệu pháp đơn giản tốt cho phổi https://vanquocduocvuong.vn/thu-gian-bang-cac-bai-tap-tho-lieu-phap-don-gian-tot-cho-phoi/ https://vanquocduocvuong.vn/thu-gian-bang-cac-bai-tap-tho-lieu-phap-don-gian-tot-cho-phoi/#respond Mon, 14 Oct 2024 01:14:27 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3155 Sau đại dịch COVID-19 sức khỏe thể chất và tinh thần của con người chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Rất nhiều vấn đề về tâm lý như trầm cảm, rối loạn lo âu, căng thẳng hay những vấn đề về các tổn thương bệnh lý như tim mạch, hô hấp tăng lên chóng mặt [...]

Bài viết Thư giãn bằng các bài tập thở – liệu pháp đơn giản tốt cho phổi đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Sau đại dịch COVID-19 sức khỏe thể chất và tinh thần của con người chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Rất nhiều vấn đề về tâm lý như trầm cảm, rối loạn lo âu, căng thẳng hay những vấn đề về các tổn thương bệnh lý như tim mạch, hô hấp tăng lên chóng mặt không chỉ về số lượng ca mắc mà cả về mức độ nặng của bệnh. Các bài tập thở là giải pháp không chỉ giúp thư giãn mà còn hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý cũng như dự phòng bệnh tật.

1. Ý nghĩa của thư giãn bằng các bài tập thở với sức khỏe tâm lý con người

Con người không thể đồng thời ở trong trạng thái căng thẳng và thư giãn. Khi con người cảm nhận có nguồn áp lực, thường hệ thần kinh giao cảm sẽ bị kích thích, tạo ra phản ứng chiến đấu hoặc chạy trốn, biểu hiện như thở nông, đồng tử giãn nở, nhịp tim tăng và cơ bắp căng cứng. Nếu áp lực quá lớn và kéo dài, hệ thống phòng vệ của cơ thể sẽ sụp đổ, dẫn đến bệnh tật. Trái lại, thư giãn là trạng thái cơ thể và tinh thần với biểu hiện của hệ thần kinh phó giao cảm được kích thích, không có căng thẳng về sinh lý, tinh thần hay cảm xúc, hoàn toàn trái ngược với phản ứng chiến đấu hoặc chạy trốn.

Thư giãn còn được gọi là liệu pháp thư giãn, một phương pháp trị liệu xuất phát từ lĩnh vực y học hành vi, giúp con người đạt đến trạng thái thư giãn thông qua một số quy trình cố định. Các phương pháp thư giãn thông dụng bao gồm thư giãn cơ tiến bộ, tưởng tượng có hướng dẫn, thiền định và các phương pháp phát triển từ đó như thư giãn phản hồi sinh học, liệu pháp thả nổi… Ngoài ra, thở sâu, âm nhạc, massage, Thái Cực Quyền, yoga cũng có thể được sử dụng như các kỹ thuật thư giãn.

Phương pháp thư giãn bằng hô hấp là một dạng thư giãn, thông qua việc kiểm soát tần số và độ sâu của nhịp thở để đạt đến trạng thái thư giãn về cả thể chất lẫn tinh thần. Trong trường hợp căng thẳng hoặc lo lắng, mọi người thường nín thở, và khi cảm thấy vừa căng thẳng vừa lo lắng, họ có xu hướng thở nhanh và nông, dẫn đến giảm lượng oxy và CO2 trong máu. Việc giảm CO2 trong máu và hô hấp nhanh nông sẽ làm tăng thêm mức độ lo lắng. Ngoài ra, giảm lượng CO2 trong não và máu có thể gây ra sự hoảng loạn, khó tập trung, khó hiểu và các rối loạn nhận thức khác. Thư giãn bằng hô hấp, thông qua thở sâu và chậm cùng với việc nín thở, có thể làm tăng quá trình khuếch tán oxy và tăng lượng CO2, đồng thời động tác hít sâu và thở sâu cũng kích thích luân phiên căng và thư giãn các cơ ở vai và bụng.

Phương pháp thư giãn bằng hô hấp có thể giúp người trải nghiệm thư giãn, từ đó giảm bớt lo âu, trầm cảm. Việc áp dụng phương pháp thư giãn bằng hô hấp cho những bệnh nhân lo âu và trầm cảm đã được công nhận rộng rãi. Phương pháp này giúp điều chỉnh chức năng của hệ thần kinh tự chủ, đạt đến trạng thái thư giãn, tránh được lo âu, trầm cảm và mất ngủ. Ngoài ra, phương pháp này cũng có tác dụng tích cực nhất định trong việc điều trị và dự phòng các bệnh như cao huyết áp, bệnh tim, bệnh phổi….

Các phương pháp thư giãn bằng các bài tập thở phổ biến

Có nhiều loại phương pháp thư giãn bằng hô hấp, chủ yếu bao gồm: thở bụng, thở mím môi, thở có kháng trở, các bài tập hô hấp toàn thân… Trong phạm vi bài viết này sẽ giới thiệu chủ yếu về thở bụng bụng và thở mím môi.

1. Phương pháp thở bụng (thở cơ hoành)

Năm 1938, Soley và các cộng sự tại Mỹ đã đề xuất khái niệm thở bụng (diaphragmatic breathing): Người thực hiện chọn tư thế thoải mái, thư giãn toàn thân, ngậm miệng và hít sâu bằng mũi đến mức không thể hít thêm, sau đó có thể ngừng thở nhẹ hoặc không ngừng thở mà thở ra từ từ bằng miệng.

  • Khi hít vào, cơ hoành co lại và hạ xuống, cơ bụng thư giãn, bụng phồng lên để đảm bảo lượng không khí hít vào lớn nhất;
  • Khi thở ra, cơ bụng co lại để giúp cơ hoành thư giãn, đồng thời áp lực trong khoang bụng tăng lên khiến cơ hoành nâng lên, bụng hóp lại, tăng lượng khí thở ra.

Tác dụng của phương pháp thở bụng (thở cơ hoành) lên sức khỏe

  • Tạp chí Tâm lý học thể thao – JCSP (2018): Thở bụng có thể kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm, giúp giảm căng thẳng và cảm giác lo âu. Các nghiên cứu cho thấy phương pháp này giúp tăng cường điều hòa nhịp tim và cải thiện các chỉ số liên quan đến chức năng thần kinh tự chủ.
  • Tạp chí Phục hồi chức năng và Phòng ngừa Tim phổi – JCRP (2001): Thở bụng giúp cải thiện chức năng hô hấp bằng cách tăng dung tích phổi và hỗ trợ việc điều tiết khí trong phổi. Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy việc áp dụng thở bụng có thể cải thiện các triệu chứng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
  • Tạp chí Điều dưỡng toàn diện – JHN (2023): Thở bụng giúp kích thích hệ tiêu hóa nhờ vào sự vận động của cơ hoành, tạo ra hiệu ứng massage nhẹ nhàng lên các cơ quan tiêu hóa, từ đó cải thiện nhu động ruột và giảm nguy cơ dính của các cơ quan nội tạng.
  • Hiệp hội Tim mạch Brazil (2009): Việc thực hành thở bụng thường xuyên cải thiện đáng kể sự biến thiên nhịp tim, mang lại dự báo tích cực cho bệnh nhân mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ (IHD) có kèm tiểu đường. Những tác động này có thể có lợi trong việc quản lý bệnh tim thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân tiểu đường.

2. Phương pháp thở mím môi

Phương pháp thở mím môi (Pursed Lip Breathing – PLB) còn được gọi là phương pháp thở ra kiểu “thổi sáo”. Người thực hiện chọn tư thế thoải mái (đứng hoặc ngồi), thư giãn cơ toàn thân, giữ bình tĩnh, hít vào bằng mũi, trong lúc hít vào thì cơ bụng thư giãn, cố gắng làm cho bụng phồng lên. Sau mỗi lần hít vào, ngừng thở một chút rồi thở ra bằng miệng, khi thở ra môi thu hẹp thành hình như đang thổi sáo, đồng thời cơ bụng co lại, thành bụng hạ xuống, lúc này khí trong phổi chậm rãi thở ra qua miệng, thời gian thở ra và hít vào có tỉ lệ khoảng 2:1, mỗi phút thực hiện 7-8 lần, mỗi lần 10-15 phút, mỗi ngày 2-3 lần.

Mức độ mím môi khi thở ra do người thực hiện tự điều chỉnh, sao cho có thể nhẹ nhàng thổi bay tờ giấy trắng cách khoảng 30 cm trước mặt là phù hợp.

Cố gắng thực hiện hít sâu thở chậm, dù hít vào hay thở ra cũng cần đạt đến mức “tối đa”, tức là hít đến khi không thể hít thêm và thở ra đến khi không thể thở thêm.

Nhiều nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra những tác động tích cực đến sức khỏe của phương pháp thở mím môi đặc biệt là người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD

  • Tạp chí Y học Vật lý và Phục hồi chức năng Châu Âu (2015): Thở mím môi cải thiện khả năng hô hấp và giảm cảm giác khó thở, tăng khả năng chịu đựng khi vận động. Thở mím môi giúp kéo dài thời gian thở ra, giảm dung tích khí còn lại trong phổi và cải thiện khả năng thông khí. Điều này có lợi cho việc giảm phình phổi ở bệnh nhân COPD.
  • Tạp chí Khoa học và nghiên cứu Quốc tế IJSR (2016): Thở mím môi có thể giảm tần số hô hấp và tăng độ bão hòa oxy ở bệnh nhân COPD. Các kết quả này cho thấy PLB là phương pháp hiệu quả trong việc cải thiện hô hấp và giảm triệu chứng khó thở ở những bệnh nhân có tình trạng suy hô hấp mạn tính.
  • Đại học Florida Atlantic (2024): Lợi ích của thở mím môi có thể vượt xa tác dụng của nó trong việc giảm tình trạng giữ lại carbon dioxide và cải thiện oxy hóa. Những bệnh nhân bị suy hô hấp nhẹ có thể lấy lại khả năng kiểm soát hô hấp của mình thông qua kỹ thuật này. Đây cũng là một công cụ tuyệt vời để thư giãn.
  • Liệu pháp thay thế trong sức khỏe và y học (2024): Đối với người lớn tuổi mắc COPD ổn định, bài tập thở mím môi có thể cải thiện chức năng phổi, chất lượng cuộc sống và đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy phục hồi bệnh. Triển vọng thúc đẩy lâm sàng và ứng dụng bài tập thở mím môi rất tốt và có thể trở thành một phần quan trọng của quá trình điều trị phục hồi chức năng.

Bên cạnh những tác động tích cực với người bệnh, người khỏe cũng có thể học và sử dụng kỹ thuật thư giãn bằng hơi thở để giải tỏa những cảm xúc tiêu cực cũng như tăng cường sức mạnh của hệ hô hấp.

Bài viết Thư giãn bằng các bài tập thở – liệu pháp đơn giản tốt cho phổi đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/thu-gian-bang-cac-bai-tap-tho-lieu-phap-don-gian-tot-cho-phoi/feed/ 0
3 bệnh gan do rượu thường gặp https://vanquocduocvuong.vn/3-benh-gan-do-ruou-thuong-gap/ https://vanquocduocvuong.vn/3-benh-gan-do-ruou-thuong-gap/#respond Sun, 13 Oct 2024 01:46:41 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/?p=364 Tiêu thụ quá nhiều rượu là một vấn đề chăm sóc sức khỏe toàn cầu. Gan chịu mức độ tổn thương mô lớn nhất do uống nhiều rượu vì đây là nơi chính diễn ra quá trình chuyển hóa ethanol. Tiêu thụ rượu quá mức và mãn tính gây ra nhiều tổn thương gan, đặc [...]

Bài viết 3 bệnh gan do rượu thường gặp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Tiêu thụ quá nhiều rượu là một vấn đề chăm sóc sức khỏe toàn cầu. Gan chịu mức độ tổn thương mô lớn nhất do uống nhiều rượu vì đây là nơi chính diễn ra quá trình chuyển hóa ethanol. Tiêu thụ rượu quá mức và mãn tính gây ra nhiều tổn thương gan, đặc trưng nhất là nhiễm mỡ, viêm gan và xơ gan/xơ gan.

Cơ chế gây bệnh gan do rượu

Sự phân hủy hóa học của rượu
Sự phân hủy hóa học của rượu

Chuyển hóa rượu trong gan chủ yếu thông qua hai enzyme: Alcohol dehydrogenase (ADH) và Aldehyde dehydrogenase (ALDH)

Alcohol dehydrogenase chuyển rượu thành acetaldehyde, và aldehyde dehydrogenase chuyển acetaldehyde thành acetate. Quá trình chuyển hóa rượu làm tăng sản xuất NADH bằng cách giảm NAD trong cơ thể. Sự chuyển đổi cân bằng chuyển hóa này về phía sản xuất NADH dẫn đến sự hình thành glycerol phosphate, kết hợp với axit béo và trở thành triglyceride, tích tụ trong gan. Khi quá trình oxy hóa lipid (ly giải mỡ) dừng lại do tiêu thụ rượu, chất béo tích tụ trong gan và dẫn đến “bệnh gan nhiễm mỡ”. Việc tiếp tục tiêu thụ rượu khiến hệ thống miễn dịch tham gia vào. Các interleukin với sự hỗ trợ của bạch cầu trung tính tấn công tế bào gan, gây ra tình trạng sưng của tế bào gan gọi là “viêm gan do rượu”. Tổn thương gan liên tục dẫn đến tổn thương gan không thể phục hồi, tức là xơ gan.

Bệnh gan do rượu

Bệnh gan do rượu bao gồm một loạt các rối loạn bắt đầu từ gan nhiễm mỡ, đôi khi tiến triển thành viêm gan do rượu và đỉnh điểm là xơ gan do rượu, đây là dạng tổn thương gan tiến triển nặng nhất và không thể phục hồi liên quan đến việc sử dụng rượu.

Có ba giai đoạn mô học của bệnh gan do rượu:

  1. Gan nhiễm mỡ do rượu hoặc gan nhiễm mỡ –  Nhiễm mỡ là phản ứng sớm nhất đối với tình trạng uống nhiều rượu và được đặc trưng bởi sự lắng đọng chất béo trong tế bào gan. Nhiễm mỡ có thể tiến triển thành viêm gan nhiễm mỡ, đây là loại tổn thương gan nghiêm trọng hơn, gây viêm.
  2. Viêm gan do rượu –  Viêm tế bào gan xảy ra ở giai đoạn này và kết quả phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tổn thương. Kiêng rượu, hỗ trợ dinh dưỡng, điều trị nhiễm trùng và liệu pháp prednisolone trong những trường hợp nghiêm trọng có thể giúp điều trị viêm gan do rượu, nhưng những trường hợp nghiêm trọng hơn sẽ dẫn đến dẫn đến xơ hóa, trong đó có sự lắng đọng quá mức các protein ma trận ngoại bào.
  3. Xơ gan do rượu – Phản ứng xơ hóa bắt đầu bằng xơ hóa quanh tế bào hoạt động, có thể tiến triển thành xơ gan, đặc trưng bởi sẹo gan quá mức, biến đổi mạch máu và cuối cùng là suy gan.

Cơ chế gây bệnh gan do rượu

Các yếu tố khác nhau, như chuyển hóa, di truyền, môi trường, và miễn dịch, cùng nhau đóng vai trò trong bệnh gan do rượu.

Gan có thể chịu đựng việc tiêu thụ rượu nhẹ, nhưng khi lượng tiêu thụ rượu tăng lên, nó dẫn đến rối loạn chức năng chuyển hóa của gan.

Giai đoạn ban đầu liên quan đến sự tích tụ các giọt mỡ nhỏ xung quanh tế bào gan, đặc biệt là xung quanh các tĩnh mạch nhỏ và tiếp cận các đường dẫn truyền tĩnh mạch. Điện thế oxy hóa khử nội bào thay đổi dẫn đến sự tích tụ lipid nội bào. Gan nhiễm mỡ thường được coi là tình trạng có thể hồi phục.

Nếu tiêu thụ rượu không dừng lại ở giai đoạn này, đôi khi sẽ dẫn đến viêm gan do rượu.

Khi tiến triển thêm, có tình trạng nhiễm mỡ gan rõ rệt, hoại tử tế bào gan và viêm cấp tính. Vật liệu sợi ưa eosin (thể Mallory hyaline hoặc Mallory-Denk) hình thành trong các tế bào gan sưng (phình to). Giai đoạn này được gọi là viêm gan do rượu. Sự thâm nhiễm thùy nghiêm trọng của bạch cầu đa nhân (bạch cầu trung tính) có nhiều trong tình trạng này trái ngược với hầu hết các loại viêm gan khác, trong đó các tế bào đơn nhân tập trung quanh bộ ba cổng thông tin.

Giai đoạn cuối của bệnh gan là xơ gan do rượu. Ở giai đoạn này, các vách ngăn xơ hóa bao quanh các nốt tái tạo trong gan. Sự lắng đọng collagen thường xảy ra xung quanh tĩnh mạch gan tận (xơ hóa quanh tĩnh mạch) và dọc theo các xoang gan, dẫn đến kiểu xơ hóa “hình lưới gà” kỳ lạ ở bệnh xơ gan do rượu.

Lượng và thời gian uống rượu của bệnh nhân là các yếu tố nguy cơ cao nhất đối với sự phát triển của bệnh gan. Loại đồ uống có vai trò không đáng kể. Phụ nữ dễ bị ảnh hưởng hơn nam giới. Béo phì và chế độ ăn nhiều chất béo cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gan do rượu. Nhiễm đồng thời viêm gan C liên quan đến việc khởi phát bệnh ở độ tuổi trẻ hơn, tổn thương mô học nặng hơn, và giảm khả năng sống sót. Protein chứa miền phospholipase giống patatin 3 (PNPLA3) liên quan đến xơ gan do rượu.

Đối tượng nguy cơ

Rượu là loại chất gây nghiện bị lạm dụng nhiều nhất trên toàn thế giới.

  • Mỗi ngày tiêu thụ từ 30-50g rượu trong vòng 5 năm có thể gây ra bệnh gan do rượu
  • Gan nhiễm mỡ có thể xảy ra ở 90% bệnh nhân uống hơn 60 gam/ngày và xơ gan xảy ra ở 30% cá nhân tiêu thụ lâu dài hơn 40 gam/ngày
  • Nam giới uống hơn 14 ly/tuần hoặc 4 ly/lần
  • Phụ nữ và những người trên 65 tuổi: uống hơn 7 ly mỗi tuần hoặc uống hơn 3 ly mỗi lần

Triệu chứng của bệnh gan do rượu

Triệu chứng của bệnh gan do rượu không đặc hiệu và dễ nhầm lẫn với nhiều tình trạng bệnh lý khác

  • Buồn nôn và nôn mửa
  • Đau hoặc khó chịu ở bụng
  • Mất cảm giác ngon miệng
  • Giảm hoặc tăng cân
  • Tăng cảm giác khát
  • Vàng mắt
  • Suy nhược
  • Sốt (trong viêm gan do rượu)
  • Lú lẫn
  • Thay đổi chu kỳ ngủ – thức
  • Thay đổi tâm trạng
  • Ngất xỉu

Trên các kết quả cận lâm sàng:

  • Xét nghiệm công thức máu (CBC) để loại trừ nhiễm trùng, tìm các biến chứng của bệnh xơ gan: thiếu máu, giảm tiểu cầu, phản ứng giống bệnh bạch cầu trong viêm gan do rượu.
  • LFT (xét nghiệm chức năng gan): AST tăng rõ rệt trái ngược với ALT trong bệnh gan do rượu. Có tình trạng giảm albumin máu, tăng bilirubin máu và tăng triglyceride máu. Ngoài ra, GGT thường tăng.
  • Thời gian prothrombin (PT) và INR (để đánh giá chức năng tổng hợp gan): giá trị tăng cao biểu thị bệnh nặng hơn.
  • Siêu âm ổ bụng hữu ích trong việc tìm kiếm tắc nghẽn đường mật và khối u gan.
  • Cần phải thực hiện xét nghiệm BMP (hồ sơ chuyển hóa cơ bản) để kiểm tra tình trạng suy thận và rối loạn điện giải (nồng độ kali, magiê và phốt pho thấp).
  • Cần tính toán SAAG (độ chênh lệch albumin huyết thanh-cổ trướng) trong dịch cổ trướng để đánh giá nguyên nhân gây cổ trướng nếu có.
  • Xét nghiệm máu sàng lọc các nguyên nhân khác gây bệnh gan mãn tính, bao gồm viêm gan siêu vi.
  • Nội soi để tìm giãn tĩnh mạch thực quản do tăng áp lực tĩnh mạch cửa ở bệnh nhân xơ gan.
  • Sinh thiết gan có thể đưa đến chẩn đoán xác định trong những trường hợp chẩn đoán không chắc chắn. Thông thường, sinh thiết gan được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng, tiên lượng, phân giai đoạn và theo dõi điều trị. Để chẩn đoán chính xác tình trạng xơ gan, cần ít nhất một mẫu mô gan dài từ 1,5 đến 2 cm. Sinh thiết gan có nguy cơ biến chứng, bao gồm xuất huyết đe dọa tính mạng, do đó, sinh thiết gan chỉ được sử dụng cho những trường hợp mà kết quả sinh thiết có thể tạo ra sự khác biệt trong kế hoạch điều trị.
  • Nồng độ CA-125 tăng cao được ghi nhận ở 85% bệnh nhân bị xơ gan trong một nghiên cứu. Mức độ mất bù càng tiến triển dựa trên điểm MELD, phân loại Child’s Turcotte-Pugh và điểm ALBI thì mức độ tăng cao của CA-125 càng cao.

Bệnh gan do rượu có triệu chứng không đặc hiệu nên cần được chẩn đoán phân biệt với nhiều bệnh lý khác:

Viêm gan do rượu có thể bị nhầm lẫn với các nguyên nhân gây viêm gan khác, chẳng hạn như viêm gan do virus, do thuốc hoặc tự miễn. Bối cảnh lâm sàng và xét nghiệm huyết thanh là cơ bản để phân biệt các thực thể này.

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH) là chẩn đoán phân biệt mô học chính vì ba giai đoạn của bệnh gan (gan nhiễm mỡ, viêm gan và xơ gan) hiện diện trong hai thực thể này. Nhiều chẩn đoán phân biệt khác bao gồm:

  • Hội chứng Reye
  • Bệnh gan không rõ nguyên nhân
  • Bệnh Wilson cấp tính
  • Bệnh khí phế thũng
  • Thiếu hụt alpha-1 antitrypsin
  • Viêm đường mật tăng dần
  • Suy gan liên quan đến ung thư biểu mô tế bào gan

Tiên lượng

Tiên lượng ở giai đoạn đầu của bệnh gan là tốt vì các tổn thương gan nhiễm mỡ và viêm gan nhiễm mỡ có thể hồi phục sau khi cai rượu. Tuy nhiên, có tới 20% bệnh nhân bị gan nhiễm mỡ vẫn có thể tiến triển thành xơ gan. Các tổn thương liên quan đến xơ gan là không thể hồi phục và tiên lượng xấu. Việc sàng lọc ung thư biểu mô tế bào gan là bắt buộc ở giai đoạn này. Sự hiện diện của cổ trướng, chảy máu giãn tĩnh mạch, bệnh não nặng và hội chứng gan thận cũng chỉ ra tiên lượng xấu.

Biến chứng

Dưới đây là một số biến chứng quan trọng của bệnh gan do rượu:

  • Xuất huyết giãn tĩnh mạch: Thường biểu hiện với nôn ra máu hoặc đi tiêu phân đen. Các phương pháp điều trị bao gồm thắt tĩnh mạch qua nội soi, xơ hóa và đặt shunt cửa chủ trong gan qua tĩnh mạch cảnh (TIPS). TIPS làm tăng nguy cơ bệnh não gan.
  • Cổ trướng: Đây là biến chứng phổ biến nhất của bệnh gan do rượu, trong đó có sự tích tụ dịch trong khoang màng bụng. Bệnh nhân thường có biểu hiện bụng chướng và phù chân. Có thể điều trị bằng cách hạn chế natri, dùng thuốc lợi tiểu, chọc dịch màng bụng và TIPS.
  • Viêm phúc mạc vi khuẩn tự phát (SBP): Đây là tình trạng nhiễm trùng dịch cổ trướng mà không có dấu hiệu nhiễm trùng từ các nguồn nội tạng khác (ví dụ: thủng ruột). Chẩn đoán có thể xác nhận bằng nuôi cấy vi khuẩn từ dịch cổ trướng dương tính và số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối trong dịch cổ trướng trên 250/mm^3. Kháng sinh ưu tiên là cefotaxime, nhưng ciprofloxacin có thể là một lựa chọn nếu bệnh nhân không thể dùng cefotaxime.
  • Hội chứng gan thận: Đây là sự phát triển của suy thận do bệnh gan do rượu tiến triển, sau khi loại trừ các nguyên nhân khác của suy thận. Đặc trưng của nó là tăng creatinine tiến triển, tỷ lệ bài tiết natri thấp, thiểu niệu, cặn nước tiểu lành tính và không có protein niệu. Hội chứng gan thận loại 1 là dạng nặng hơn với ít nhất tăng gấp đôi creatinine trong vòng chưa đầy hai tuần, và có tỷ lệ tử vong cao. Loại 2 khởi phát chậm hơn và có tiên lượng tương đối tốt hơn. Điều trị cho bệnh nhân nguy kịch bao gồm norepinephrine và albumin. Đối với bệnh nhân không nguy kịch, điều trị bao gồm midodrine (chất chủ vận alpha uống), octreotide và albumin. Điều trị cuối cùng là ghép gan.
  • Tràn dịch màng phổi do gan: Đây là sự hiện diện của tràn dịch màng phổi, loại trừ các nguyên nhân khác của tràn dịch màng phổi. Điều trị bao gồm thuốc lợi tiểu, chọc dịch màng phổi và TIPS.
  • Hội chứng gan phổi: Đặc trưng với sự tăng gradient oxy phế nang-động mạch trên không khí phòng và có bằng chứng về bất thường mạch máu trong phổi. Bệnh nhân thường có triệu chứng khó thở và thiếu oxy. Không có phương pháp điều trị nào ngoại trừ ghép gan.
  • Bệnh não gan: Được đặc trưng bởi các bất thường thần kinh tâm thần có thể phục hồi. Điều trị bao gồm lactulose, rifaximin và điều chỉnh các yếu tố gây ra như nhiễm trùng, xuất huyết tiêu hóa, v.v.
  • Các biến chứng hiếm khác bao gồm bệnh cơ tim do xơ gan, ung thư biểu mô tế bào gan, bệnh lý dạ dày do xơ gan, tăng huyết áp động mạch phổi do xơ gan, và huyết khối tĩnh mạch cửa.

BS Uông Mai

Bài viết 3 bệnh gan do rượu thường gặp đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/3-benh-gan-do-ruou-thuong-gap/feed/ 0
Xét nghiệm máu mới có thể giúp phát hiện sớm bệnh Alzheimer https://vanquocduocvuong.vn/xet-nghiem-mau-moi-co-the-giup-phat-hien-som-benh-alzheimer/ https://vanquocduocvuong.vn/xet-nghiem-mau-moi-co-the-giup-phat-hien-som-benh-alzheimer/#respond Sat, 12 Oct 2024 01:51:41 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3140 Các nghiên cứu gần đây cho thấy xét nghiệm máu có thể dự đoán chính xác bệnh Alzheimer. Điều đó có thể mở ra cánh cửa phát hiện và điều trị sớm hơn căn bệnh này, nhưng mọi người nên thận trọng khi làm xét nghiệm mà không có sự hướng dẫn của chuyên gia [...]

Bài viết Xét nghiệm máu mới có thể giúp phát hiện sớm bệnh Alzheimer đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Các nghiên cứu gần đây cho thấy xét nghiệm máu có thể dự đoán chính xác bệnh Alzheimer. Điều đó có thể mở ra cánh cửa phát hiện và điều trị sớm hơn căn bệnh này, nhưng mọi người nên thận trọng khi làm xét nghiệm mà không có sự hướng dẫn của chuyên gia y tế.

Sự ra đời của xét nghiệm máu chẩn đoán bệnh Alzheimer

Trong nhiều thập kỷ, không có quá nhiều tin tốt để kể về những nỗ lực trong việc chống lại bệnh Alzheimer, căn bệnh thoái hóa thần kinh ảnh hưởng đến gần 50 triệu người trên toàn thế giới (theo số liệu thống kê năm 2020). Nhưng điều đó đã thay đổi nhanh chóng vào năm ngoái với những tiến bộ trên ba mặt trận:
  • Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt hai loại thuốc mới nhằm làm chậm tiến triển của bệnh;
  • Thông tin mới về gốc rễ di truyền của bệnh Alzheimer;
  • Kết quả đầy hứa hẹn gần đây từ một xét nghiệm máu có thể cải thiện khả năng phát hiện sớm bệnh Alzheimer.

Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Alzheimer đã nhấn mạnh tiềm năng của xét nghiệm máu mới này, xét nghiệm đo lường mức độ của hai dấu ấn sinh học chính liên quan đến bệnh Alzheimer. Các lãnh đạo của tổ chức này cho biết xét nghiệm máu nói chung có thể giúp việc phát hiện và chẩn đoán bệnh Alzheimer trở nên phổ biến hơn và ít tốn kém hơn cho bệnh nhân. Nhờ đó, bệnh nhân có thể bắt đầu điều trị khi bệnh vẫn còn ở giai đoạn đầu. Xét nghiệm máu cũng có thể giúp tăng số lượng ứng viên đủ điều kiện tham gia các thử nghiệm lâm sàng về phương pháp điều trị mới.

Tiến bộ mới liên quan đến xét nghiệm máu cho bệnh Alzheimer là đáng khích lệ, nhưng cũng đặt ra những câu hỏi quan trọng đối với cả bệnh nhân và nhà cung cấp.

Có xét nghiệm máu để phát hiện bệnh Alzheimer không?

Có. Thực tế, nhiều công ty hiện đang cung cấp các xét nghiệm này, bao gồm Quest Diagnostics, ALZPath, Inc., Roche Diagnostics (phát triển cùng Eli Lilly Company), LabCorp và C2N Diagnostics.

Các xét nghiệm máu đo lường gì?

Điều đó tùy thuộc vào từng xét nghiệm. Nhìn chung, các xét nghiệm máu mới phát hiện mức độ protein cho thấy nguy cơ mắc bệnh Alzheimer. Ví dụ:

  • xét nghiệm AD-Detect do Quest Diagnostics giới thiệu vào năm 2023 đo tỷ lệ beta-amyloid 42 và 40. Trong bệnh Alzheimer, amyloid kết tụ không đúng cách để tạo ra các mảng bám dính gây ảnh hưởng đến cách tế bào não hoạt động và làm suy giảm khả năng nhận thức.
  • Vào tháng 4 năm 2024, Quest công bố một xét nghiệm máu mới đo mức độ p-tau217, một protein khác liên quan đến bệnh Alzheimer và hình thành đám rối trong não. Các xét nghiệm máu đối với p-tau217 cũng có thể dự đoán sự hiện diện của các mảng bám amyloid.
  • Xét nghiệm PrecivityAD2 của C2N Diagnostics đo cả tỷ lệ beta-amyloid 42/40 và mức độ p-tau217.

Các xét nghiệm máu mới cho Alzheimer chính xác đến mức nào?

Xét nghiệm Precivity AD2 khá chính xác và đặc hiệu. Trong một nghiên cứu được tài trợ một phần bởi Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, xét nghiệm máu này đã dự đoán chính xác bệnh Alzheimer ở 88% đến 92% người tham gia. Kết quả này được so sánh với “tiêu chuẩn vàng” hiện tại để chẩn đoán bệnh Alzheimer:

  • chọc dò tủy sống, được sử dụng để lấy dịch não tủy và phân tích để phát hiện sự hiện diện của beta-amyloid và tau;
  • chụp cắt lớp phát xạ positron (PET), đo lường beta-amyloid trong não nhưng không cung cấp thông tin về tau.

Xét nghiệm Precivity cũng chính xác hơn đáng kể so với các đánh giá lâm sàng được thực hiện bởi các bác sỹ tại các trung tâm trí nhớ (73%) hoặc trung tâm chăm sóc ban đầu (61%).

Tuy nhiên cũng cần thêm các nghiên cứu rộng hơn bởi ví dụ như nghiên cứu PrecivityAD2 được thực hiện với bệnh nhân Thụy Điển, cần các nghiên cứu bổ sung với các nhóm dân cư đa dạng hơn. Nhiều yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của xét nghiệm.

Có nhiều nhóm đang phát triển các xét nghiệm khác nhau ở các địa điểm khác nhau, nhưng điều quan trọng cần hiểu là một số dấu ấn sinh học máu có thể bị ảnh hưởng không chỉ bởi các vấn đề y tế mà còn bởi di truyền, vị trí địa lý và các yếu tố khác. Việc một xét nghiệm được phát triển tại một nơi không có nghĩa là nó sẽ có độ nhạy hoặc đặc hiệu tương tự ở nơi khác. Và các xét nghiệm này chỉ nên được sử dụng khi có sự giám sát của bác sỹ chuyên khoa – những người có thể đọc hiểu kết quả của xét nghiệm.

Chi phí cho một xét nghiệm máu phát hiện bệnh Alzheimer

Chi phí dao động từ vài trăm đô la, như đã chỉ ra trong phân tích vào đầu năm 2024.

  • Xét nghiệm AD-Detect có giá 399USD.
  • Xét nghiệm PrecivityAD2, được chứng minh là đầy hứa hẹn trong thử nghiệm lâm sàng được đề cập trước đó, có giá 1.450USD

Khi nào các xét nghiệm máu mới để phát hiện Alzheimer sẽ được phổ biến rộng rãi?

Có thể mất từ 5 đến 10 năm trước khi các xét nghiệm máu mới để phát hiện Alzheimer trở nên phổ biến. Tuy nhiên, tiến bộ trong điều trị sa sút trí tuệ hướng đến phát hiện sớm có thể đẩy nhanh quá trình này.

Bên cạnh đó mặc dù có thể sử dụng xét nghiệm máu để phát hiện bệnh Alzheimer, nhưng các kết quả này vẫn chưa được coi là chẩn đoán xác định. Nếu thực hiện xét nghiệm sàng lọc và kết quả là dương tính, chúng ta vẫn cần phải thực hiện chọc dò tủy sống hoặc chụp cắt lớp phát xạ positron để phát hiện amyloid.

Một người có các dấu hiệu về mất trí nhớ, hoặc các vấn đề tư duy trên lâm sàng giống như bệnh Alzheimer cũng không chắc chắn đó là Alzheimer.

Chọc dịch não tủy vẫn là lựa chọn tối ưu cho thời điểm hiện tại

Chọc dò tủy sống là một thủ thuật khá tiêu chuẩn, thường mất khoảng 30 phút từ lúc chuẩn bị. Việc đưa một kim lớn vào vùng thắt lưng có thể khiến một số người cảm thấy không thoải mái, nhưng thủ thuật này thường không gây đau đớn.

Dịch não tủy có thể cho chúng ta biết điều gì? Dịch não tủy có thể chứa mức beta-amyloid thấp, là dấu hiệu cho thấy các protein đang bị mắc kẹt trong não, và/hoặc mức tau cao. Kết hợp lại, những phát hiện này giúp xác nhận chẩn đoán bệnh Alzheimer.

Dịch não tủy cũng có thể chứa manh mối về các bệnh khác ảnh hưởng đến nhận thức. Ví dụ, nó có thể tiết lộ các dấu hiệu viêm, như kháng thể đặc hiệu, kháng thể chống NMDA. Kháng thể này gây ra viêm não do thụ thể chống NMDA, bao gồm các triệu chứng suy giảm nhận thức.

Các xét nghiệm khác của dịch não tủy có thể giúp chẩn đoán các bệnh như bệnh Creutzfeldt-Jakob, cũng gây suy giảm trí nhớ và suy nghĩ. Xét nghiệm alpha-synuclein trong dịch não tủy cũng có thể giúp chẩn đoán chứng sa sút trí tuệ với thể Lewy, một nguyên nhân khác gây suy giảm nhận thức.

Có lợi ích gì khi thực hiện chọc dò tủy sống so với chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) amyloid để phát hiện bệnh Alzheimer không?

Có. Chọc dò tủy sống có thể giúp loại trừ các bệnh tự miễn, chẳng hạn như viêm não do kháng thể chống thụ thể NMDA, hoặc các rối loạn thoái hóa thần kinh khác như bệnh Creutzfeldt-Jakob đã đề cập ở trên. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người trẻ tuổi có suy giảm nhận thức khởi phát sớm vì nguy cơ mắc bệnh Alzheimer của họ tương đối thấp.

Đối với những người đang xem xét liệu pháp chống amyloid lecanemab và donanemab cũng ưu tiên chọc dò tủy sống. Chụp PET để phát hiện amyloid chỉ cho biết về amyloid, không cho biết bất kỳ điều gì về các dấu hiệu khác mà chúng ta thấy trong bệnh Alzheimer, như protein tau. Thông tin về tau rất quan trọng trong điều trị bởi nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy bệnh nhân có mức tau cao hơn ít có khả năng đáp ứng với điều trị hơn,

Tóm lại, xét nghiệm máu có thể là bước tiến mới quan trong trong tương lai gần còn hiện tại khi có các biểu hiện về mất trí nhớ gần hoặc các rối loạn về hành vi, khả năng diễn đạt, lẫn lộn thời gian, địa điểm… bạn nên đi khám ngay các chuyên khoa về thần kinh, lão khoa để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

BS Uông Mai tổng hợp và lược dịch

Bài viết Xét nghiệm máu mới có thể giúp phát hiện sớm bệnh Alzheimer đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/xet-nghiem-mau-moi-co-the-giup-phat-hien-som-benh-alzheimer/feed/ 0
Những lưu ý về quá trình mọc răng của bé https://vanquocduocvuong.vn/nhung-luu-y-ve-qua-trinh-moc-rang-cua-be/ https://vanquocduocvuong.vn/nhung-luu-y-ve-qua-trinh-moc-rang-cua-be/#respond Fri, 11 Oct 2024 01:15:06 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3119 Sự phát triển răng của trẻ là một hành trình kỳ diệu, mỗi giai đoạn đều mang theo những câu chuyện và điểm chăm sóc khác nhau. Hãy cùng nhau khám phá hành trình mọc răng của trẻ để đảm bảo nụ cười của trẻ ngày càng rạng rỡ hơn. 1. Răng sữa Khoảng 6 [...]

Bài viết Những lưu ý về quá trình mọc răng của bé đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>

Sự phát triển răng của trẻ là một hành trình kỳ diệu, mỗi giai đoạn đều mang theo những câu chuyện và điểm chăm sóc khác nhau. Hãy cùng nhau khám phá hành trình mọc răng của trẻ để đảm bảo nụ cười của trẻ ngày càng rạng rỡ hơn.

1. Răng sữa

Khoảng 6 tháng tuổi, chiếc răng sữa đầu tiên của bé (thường là hai chiếc răng cửa giữa ở hàm dưới) bắt đầu ‘đâm chồi’. Trong giai đoạn này, bé có thể trải qua hiện tượng chảy dãi, nướu đỏ, sốt nhẹ, tất cả đều là phản ứng bình thường của cơ thể. Để giảm bớt sự khó chịu cho bé, có thể sử dụng các vật lạnh hoặc những chiếc vòng ngậm (vòng cắn) đặc chế. Đồng thời, việc giữ gìn vệ sinh miệng rất quan trọng. Sử dụng gạc ẩm hoặc bàn chải đánh răng cho bé để nhẹ nhàng lau nướu và răng có thể hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn.

2. Thay răng 

Khoảng 6 tuổi, răng sữa của bé bắt đầu nhường chỗ cho răng vĩnh viễn, đánh dấu sự khởi đầu của giai đoạn thay răng.

Thay răng không chỉ là sự lấp đầy vĩnh viễn răng của bé mà còn là giai đoạn quan trọng trong việc giáo dục sức khỏe răng miệng. Phụ huynh nên hướng dẫn trẻ hình thành thói quen vệ sinh miệng tốt, bao gồm phương pháp đánh răng đúng cách (phương pháp đánh răng Bass), sử dụng chỉ nha khoa để làm sạch kẽ răng, và đánh răng ít nhất hai lần một ngày, mỗi lần ít nhất hai phút. Ngoài ra, việc kiểm tra răng miệng định kỳ (mỗi sáu tháng một lần) có thể giúp phát hiện và xử lý kịp thời các vấn đề răng miệng tiềm ẩn.

3. Răng vĩnh viễn

Khi trẻ khoảng 12 tuổi, chiếc răng hàm vĩnh viễn thứ hai bắt đầu mọc lên một cách âm thầm, hàm răng dần được lấp đầy tiến tới con số đầy đủ 32 răng. Lúc này, thói quen ăn uống có ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe răng miệng. Nên khuyến khích trẻ ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ, như rau củ, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt, đồng thời hạn chế lượng đường và đồ uống có ga. Những thói quen ăn uống lành mạnh này không chỉ giúp răng chắc khỏe mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ.

4. Niềng răng ở trẻ

Khi bước vào độ tuổi dậy thì, nếu phát hiện ra răng của trẻ không đều hoặc có vấn đề về khớp cắn, điều trị niềng răng có thể là chìa khóa để cải thiện nụ cười.

Hãy chọn một bác sĩ niềng răng chuyên nghiệp, thực hiện kiểm tra và đánh giá chi tiết, từ đó xây dựng kế hoạch điều trị cá nhân hóa dựa trên tình trạng cụ thể của trẻ.

Kiểm tra và bảo trì niềng răng định kỳ có thể đảm bảo hiệu quả điều trị, giúp nụ cười của trẻ trở nên tự tin và cuốn hút hơn.

5. Thói quen để có hàm răng chắc khỏe và nụ cười tươi

  • Kiểm tra định kỳ: Mỗi sáu tháng đưa trẻ đi khám nha sĩ một lần, phát hiện sớm để điều trị sớm, phòng ngừa luôn tốt hơn điều trị.
  • Chế độ ăn uống lành mạnh: Hạn chế ăn đồ ngọt, tăng cường ăn các thực phẩm giàu canxi, phốt pho và vitamin D, như sữa, sữa chua và phô mai, để thúc đẩy sự chắc khỏe của răng.
  • Đánh răng đúng cách: Dạy trẻ động tác đánh răng đúng, sử dụng bàn chải mềm phù hợp với độ tuổi và kem đánh răng có chứa fluoride, đảm bảo mọi góc của răng đều được làm sạch.
  • Biết sử dụng chỉ nha khoa: Sử dụng chỉ nha khoa hàng ngày để làm sạch kẽ răng, ngăn ngừa sự hình thành mảng bám và bệnh về nướu.
  • Bảo vệ răng: Khi tham gia các môn thể thao có nguy cơ cao, nên đeo dụng cụ bảo vệ răng miệng để tránh chấn thương.

Sức khỏe răng miệng của trẻ là một phần quan trọng trong quá trình trưởng thành và phát triển toàn diện. Thông qua những điểm chăm sóc trên, chúng ta có thể giúp trẻ hình thành thói quen vệ sinh miệng tốt, làm cho nụ cười của trẻ trở nên rạng rỡ và tự tin hơn. Hãy cùng nhau nỗ lực, bảo vệ từng chiếc răng của trẻ và chứng kiến chúng lớn lên một cách khỏe mạnh và hạnh phúc.

BS Uông Mai

Bài viết Những lưu ý về quá trình mọc răng của bé đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/nhung-luu-y-ve-qua-trinh-moc-rang-cua-be/feed/ 0
Mặt đỏ khi uống rượu” vs “Mặt trắng khi uống rượu”, ai uống giỏi hơn? https://vanquocduocvuong.vn/mat-do-khi-uong-ruou-vs-mat-trang-khi-uong-ruou-ai-uong-gioi-hon/ https://vanquocduocvuong.vn/mat-do-khi-uong-ruou-vs-mat-trang-khi-uong-ruou-ai-uong-gioi-hon/#respond Thu, 10 Oct 2024 01:16:00 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3114 Bạn đã từng phát hiện ra rằng, mỗi người có những biểu hiện rất khác nhau sau khi uống rượu? Bạn có thắc mắc tại sao có người uống rượu xong mặt đỏ tía tai, còn có người lại càng uống mặt càng tái nhợt, có người chỉ uống một ly đã ngã, nhưng có người lại uống mãi không [...]

Bài viết Mặt đỏ khi uống rượu” vs “Mặt trắng khi uống rượu”, ai uống giỏi hơn? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Bạn đã từng phát hiện ra rằng, mỗi người có những biểu hiện rất khác nhau sau khi uống rượu? Bạn có thắc mắc tại sao có người uống rượu xong mặt đỏ tía tai, còn có người lại càng uống mặt càng tái nhợt, có người chỉ uống một ly đã ngã, nhưng có người lại uống mãi không say. Thực ra, tất cả điều này đều liên quan đến yếu tố trong cơ thể chúng ta. Hãy cùng Vạn Quốc Dược Vương tìm hiểu về vấn đề này nhé!

Sự chuyển hóa rượu trong cơ thể

Sự phân hủy hóa học của rượu
Sự phân hủy hóa học của rượu

Khi rượu vào cơ thể, trước hết nó sẽ được chuyển hóa tại gan nhờ enzym alcohol dehydrogenase (ADH) thành acetaldehyde. Acetaldehyde là một chất độc, nếu không được xử lý kịp thời, nó có thể gây hại cho các tế bào. May mắn thay, trong cơ thể chúng ta có một loại enzym khác là aldehyde dehydrogenase (ALDH), nó sẽ chuyển acetaldehyde thành axit acetic vô hại, sau đó axit acetic tiếp tục được phân giải thành carbon dioxide và nước, và cuối cùng được thải ra ngoài.

Trong quá trình chuyển hóa rượu, alcohol dehydrogenase (ADH) và aldehyde dehydrogenase (ALDH) đóng vai trò quan trọng. Nghiên cứu cho thấy khi hai loại enzym này có hoạt tính chuyển hóa cao, nghĩa là sau khi uống rượu, chất trung gian acetaldehyde trong cơ thể được chuyển hóa nhanh chóng và không dễ tích tụ; nghiên cứu cũng phát hiện rằng nhóm người này thường có khả năng uống rượu tốt hơn.

Mặt đỏ khi uống rượu” vs “Mặt trắng khi uống rượu”, ai uống giỏi hơn?

Tại sao sau khi uống rượu lại “mặt đỏ”? Khi enzym alcohol dehydrogenase (ADH) có hoạt tính quá mạnh hoặc enzym aldehyde dehydrogenase (ALDH) có hoạt tính chuyển hóa thấp, sau khi uống rượu sẽ xuất hiện các phản ứng như mặt đỏ, nóng bừng, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn và buồn ngủ. Đây là do acetaldehyde trong cơ thể tích tụ nhanh chóng mà không được chuyển hóa kịp thời. Acetaldehyde là chất gây ung thư, nếu tích tụ lâu dài với số lượng lớn sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ mắc ung thư.

Tại sao sau khi uống rượu lại “mặt trắng”? Khi cả hai loại enzym này đều có hoạt tính chuyển hóa thấp, sau khi uống rượu sẽ xảy ra tình trạng da dần trở nên trắng bệch. Điều này là do lượng lớn rượu không được phân giải trong cơ thể mà đi thẳng vào hệ tuần hoàn máu, khiến các mao mạch ngoại vi co lại và máu dồn về các khu vực trung tâm bên trong cơ thể. Lâu dần, nguy cơ mắc ung thư gan ở nhóm người này sẽ tăng cao.

Như vậy việc mặt đỏ hay mặt tái phụ thuộc vào ADH và ALDH. Hai loại enzym này lại do gen quy định. Bởi vậy phản ứng sau uống rượu như thế nào phụ thuộc vào hệ gen của bạn. Bạn có thể xét nghiệm gen ALDH2 để biết về tửu lượng của bản thân. Gen ALDH2 có 2 type là Glu(G) và Lys(L) tạo ra 3 kiểu gen GG, LG, LL tương ứng với 3 kiểu người

  • Người mang kiểu gen GG: khả năng chuyển hóa acetaldehyde tốt nhất (tửu lượng rất cao)
  • Người mang kiểu gen LG: khả năng chuyển hóa acetaldehyde tốt (tửu lượng cao)
  • Người mang kiểu gen LL: khả năng chuyển hóa acetaldehyde kém nên acetaldehyde tích tụ trong cơ thể -> đỏ mặt khi uống rượu, thậm chí có thể nôn mửa, tim đập nhanh, nhức đầu…

Những người mang kiểu gen GG, LG thường gặp ở Nhật Bản, Hàn Quốc. Trong khi có khoảng 30-40% dân châu Á mang kiểu gen LL.

Những người càng uống rượu mặt càng tái đi, đến 1 thời điểm say không biết gì, không uống được nữa là do họ có enzym acetaldehyde dehydrogenase2 (ALDH 2) hoạt tính cao.

Người vừa có acetaldehyde dehydrogenase2 (ALDH 2) hoạt tính cao và ADH hoạt tính cao thuộc nhóm ‘cao thủ” về rượu. Khi uống nhiều rượu 2 loại enzym này sẽ chuyển hóa nhanh chóng alcohol thành acetat đi vào chu trình Crep tạo ra năng lượng dưới dạng nhiệt nên những người này hay ra nhiều mồ hôi khi uống lượng lớn rượu.

Các rủi ro sức khỏe từ việc uống rượu

Tác động của rượu đến cơ thể rất đa dạng, không chỉ ảnh hưởng đến khả năng uống rượu mà còn có thể gây ra một loạt các vấn đề sức khỏe. Uống rượu quá mức trong thời gian dài, đặc biệt đối với những người có đột biến gen ALDH2, acetaldehyde sẽ tích tụ trong cơ thể, có thể gây hư hại và đột biến DNA, làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư đặc biệt phải kể đến ung thư gan, ung thư thực quản…

Ngoài ra, rượu còn có thể gây hại cho gan, gây ra viêm gan, gan nhiễm mỡ, thậm chí là xơ gan. Đối với tim, uống rượu lâu dài có thể dẫn đến bệnh cơ tim và bệnh tim. Rượu cũng có thể ảnh hưởng đến chức năng nhận thức của não, gây suy giảm trí nhớ và giảm khả năng học tập.

Nghệ thuật uống rượu: Khuyến khích uống có trách nhiệm, tận hưởng cuộc sống lành mạnh

Văn hóa uống rượu đã ăn sâu trong nhiều tầng lớp xã hội, thường gắn liền với các hoạt động xã giao, lễ kỷ niệm hay thậm chí là công việc. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng nhận thức về sức khỏe, việc uống rượu có trách nhiệm trở nên đặc biệt quan trọng.

Sau khi hiểu rõ khả năng chuyển hóa rượu của bản thân, chúng ta có thể đưa ra quyết định uống rượu một cách thông minh hơn. Uống rượu vừa phải có nghĩa là kiểm soát lượng tiêu thụ, tránh những rủi ro sức khỏe do việc uống quá mức gây ra. Trong các tình huống xã hội, ngay cả khi đối mặt với việc bị ép uống, chúng ta cũng nên giữ nguyên tắc của mình, không uống quá đà vì áp lực từ bên ngoài.

Ngoài ra, việc khuyến khích một văn hóa uống rượu lành mạnh, chẳng hạn như chọn loại rượu nhẹ, uống từ từ và kết hợp với đồ ăn, đều là những cách hiệu quả để giảm thiểu tác hại của rượu đối với cơ thể.

BS Uông Mai tổng hợp và lược dịch

Bài viết Mặt đỏ khi uống rượu” vs “Mặt trắng khi uống rượu”, ai uống giỏi hơn? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/mat-do-khi-uong-ruou-vs-mat-trang-khi-uong-ruou-ai-uong-gioi-hon/feed/ 0