Lưu trữ phụ nữ mang thai - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/tag/phu-nu-mang-thai/ Mon, 30 Sep 2024 15:08:24 +0000 vi hourly 1 https://vanquocduocvuong.vn/wp-content/uploads/2022/07/cropped-logo-vanquocduocvuong.png Lưu trữ phụ nữ mang thai - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/tag/phu-nu-mang-thai/ 32 32 Những điều cần biết về sàng lọc trước sinh https://vanquocduocvuong.vn/nhung-dieu-can-biet-ve-sang-loc-truoc-sinh/ https://vanquocduocvuong.vn/nhung-dieu-can-biet-ve-sang-loc-truoc-sinh/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:20 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/nhung-dieu-can-biet-ve-sang-loc-truoc-sinh/ Sàng lọc trước sinh giúp phát hiện sớm nhiều bệnh lý di truyền là vấn đề cần được quan tâm, tuyên truyền và thực hiện càng sớm càng tốt nhằm xây dựng một thế hệ tương lai khỏe mạnh. Nhiều bệnh lý di truyền được phát hiện từ trong bào thai bằng phương pháp sàng lọc [...]

Bài viết Những điều cần biết về sàng lọc trước sinh đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Sàng lọc trước sinh giúp phát hiện sớm nhiều bệnh lý di truyền là vấn đề cần được quan tâm, tuyên truyền và thực hiện càng sớm càng tốt nhằm xây dựng một thế hệ tương lai khỏe mạnh.

Nhiều bệnh lý di truyền được phát hiện từ trong bào thai bằng phương pháp sàng lọc trước sinh để cha mẹ trẻ quyết định, hạn chế sự ra đời của những trẻ mắc dị tật bẩm sinh nặng, góp phần giảm áp lực và gánh nặng cho gia đình, xã hội vì cứ 100 trẻ sinh ra thì có 4 trẻ mang vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe, phần lớn liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể như: hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứng Patau… Tuy nhiên, rất nhiều câu hỏi thường gặp về phương pháp xét nghiệm sàng lọc trước sinh cần được tư vấn, giải đáp.

1. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh nhằm mục đích gì?

Xét nghiệm sàng lọc trước sinh chủ yếu giúp sàng lọc

+ Các bất thường về di truyền, đặc biệt là hội chứng Down (Thai có ba nhiễm sắc thể số 21 – Trisomy 21) và một số bất thường số lượng nhiễm sắc thể khác.

+ Sàng lọc nguy cơ thai bị dị tật ống thần kinh hoặc một số bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể.

2. Những ai nên thực hiện xét nghiệm sàng lọc trước sinh?

– Tất cả các thai phụ đều nên thực hiện.

– Đối với những thai phụ có tiền sử gia đình, tiền sử bản thân, thai sản đặc biệt (dị tật bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần,…) nên được tư vấn di truyền trước khi thực hiện xét nghiệm.

3. Sàng lọc trước sinh bao gồm những xét nghiệm gì và thực hiện khi nào?

Double test: thực hiện lúc thai 11 tuần – 13 tuần 6 ngày, giúp sàng lọc nguy cơ thai bị hội chứng Down, hội chứng Edwards (Thai có ba nhiễm sắc thể 18 – Trisomy 18) và hội chứng Patau (Thai có ba nhiễm sắc thể 13 – Trisomy 13) là những hội chứng gây đa dị tật và chậm phát triển trí thần.

Khuyến cáo: Cần siêu âm thai để có chỉ số khoảng sáng sau gáy và chiều dài đầu mông (CRL) của thai nhi.

Triple test: thực hiện lúc thai 15 tuần – 18 tuần, giúp sàng lọc nguy cơ thai bị hội chứng Down, hội chứng Edwards và dị tật ống thần kinh.

NIPS hay NIPT (sàng lọc trước sinh không xâm lấn): có thể thực hiện từ tuần thai thứ 10, với độ tin cậy và chính xác cao hơn so với Double test và Triple test. Xét nghiệm có thể sàng lọc nguy cơ thai bị hội chứng Down (độ chính xác/tỷ lệ phát hiện lên tới 99.9%; từ 90% đối với hội chứng còn lại), hội chứng Edwards (Trisomy 18) và hội chứng Patau (Trisomy 13); bất thường số lượng nhiễm sắc thể giới tính cũng như toàn bộ các nhiễm sắc thể khác; có thể sàng lọc nguy cơ thai bị một số bất thường về cấu trúc của một số nhiễm sắc thể nhất định.

4. Thai phụ cần chuẩn bị gì trước khi đi làm xét nghiệm sàng lọc trước sinh?

– Siêu âm thai lúc thai 11 tuần – 13 tuần 6 ngày, có đủ 2 chỉ số: Chiều dài đầu mông và khoảng sáng sau gáy đối với thai phụ làm Double test và Triple test.

– Siêu âm thai gần nhất đối với xét nghiệm NIPS/NIPT.

– Thai phụ cần nhớ ngày đầu của kỳ kinh cuối cùng (trường hợp thai phụ có kinh nguyệt đều và có thai tự nhiên), hoặc ngày bơm tinh trùng vào tử cung hoặc ngày chuyển phôi đối với thai phụ làm hỗ trợ sinh sản.

– Lưu ý: Không cần nhịn ăn trước khi làm xét nghiệm. Xét nghiệm không phụ thuộc vào thời điểm lấy mẫu.

5. Xét nghiệm sàng lọc trước sinh được thực hiện như thế nào và khi nào có kết quả ?

Double test và Triple test: cần lấy 2 – 3ml máu tĩnh mạch ngoại vi để xét nghiệm, kết quả có sau 01 ngày (không tính ngày nghỉ, lễ).

NIPS/NIPT: cần lấy 8 – 10ml máu tĩnh mạch ngoại vi để xét nghiệm, kết quả có sau 7 – 10 ngày (không tính ngày nghỉ, lễ).

Sau khi có kết quả xét nghiệm, thai phụ và gia đình sẽ được tư vấn bởi các Bác sĩ chuyên khoa Di truyền hoặc Sản khoa.

Trung tâm tư vấn di truyền – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Bài viết Những điều cần biết về sàng lọc trước sinh đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/nhung-dieu-can-biet-ve-sang-loc-truoc-sinh/feed/ 0
Hướng dẫn mới về giảm đau khi mang thai https://vanquocduocvuong.vn/huong-dan-moi-ve-giam-dau-khi-mang-thai/ https://vanquocduocvuong.vn/huong-dan-moi-ve-giam-dau-khi-mang-thai/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:12 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/huong-dan-moi-ve-giam-dau-khi-mang-thai/ Quản lý đau trong và sau khi mang thai là rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ gây ra các kết cục bất lợi cho mẹ và bé, nhưng lựa chọn loại thuốc giảm đau và thời gian giảm đau là quan trọng. Bài viết này tổng hợp các khuyến cáo mới của RCOG [...]

Bài viết Hướng dẫn mới về giảm đau khi mang thai đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Quản lý đau trong và sau khi mang thai là rất cần thiết để giảm thiểu nguy cơ gây ra các kết cục bất lợi cho mẹ và bé, nhưng lựa chọn loại thuốc giảm đau và thời gian giảm đau là quan trọng.

Bài viết này tổng hợp các khuyến cáo mới của RCOG ngày 13 tháng 12 năm 2018 hướng dẫn giảm đau cho phụ nữ trong giai đoạn mang thai và sau sinh sau khi ghi nhận những tác dụng bất lợi về việc sử dụng codein trong thời kỳ cho con bú.

Nhiều phụ nữ bị đau đầu, đau lưng, đau vùng chậu khi mang thai và cho con bú, ngoài ra một số phụ nữ có thể có các bệnh lý mãn tính cần phải sử dụng thuốc giảm đau kéo dài. Nếu đau không được kiểm soát tốt có thể tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người phụ nữ.

Phụ nữ mang thai nên được hướng dẫn thử các phương pháp điều trị phi y tế, như nghỉ ngơi đầy đủ, chườm nóng, chườm lạnh, xoa bóp, vật lý trị liệu và tập thể dục. Trong trường hợp cần dùng thuốc giảm đau, thai phụ nên tham vấn bác sĩ và nhân viên y tế để được chỉ định các loại thuốc phù hợp.

RCOG khuyến cáo rằng, nếu có thể, nên tránh tất cả các loại thuốc trong ba tháng đầu tiên thai kỳ khoảng thời gian từ tuần thứ 4 đến đến tuần thứ 10 tuần vì đây là giai đoạn dễ xảy ra các dị tật cho thai nhi. Tuy nhiên, một số thuốc giảm đau có thể vẫn được chỉ định nếu lợi ích của thuốc mang lại cho mẹ cao hơn nguy cơ gây ra cho thai.

Paracetamol

Paracetamol vẫn là thuốc giảm đau nên được lựa chọn ở phụ nữ mang thai và cho con bú vì các dữ liệu an toàn của thuốc. Mặc dù đã có ít dữ liệu ghi nhận mối liên quan giữa việc sử dụng paracetamol và các kết cục bất lợi như tăng tỷ lệ mắc hen suyễn ở trẻ em, các vấn đề về hành vi và chậm phát triển vận động và giao tiếp ở trẻ em có phơi nhiễm kéo dài trong thai kỳ.

NSAIDS

Tổng quan dữ liệu cho thấy rằng các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDS) như ibuprofen, diclofenac, … nên tránh sử dụng trong ba tháng đầu thai kỳ và không nên dùng sau tuần thứ 30 thai kỳ do tăng nguy cơ em bé trừ khi có chỉ định lâm sàng bắt buộc phải sử dụng (chứng đau nửa đầu nghiêm trọng…)

Các bác sĩ khuyến cáo nên sử dụng với liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất vì một số bằng chứng cho thấy việc sử dụng NSAIDS có thể làm tăng nguy cơ sảy thai trong ba tháng đầu.

Tuy nhiên, NSAIDS an toàn khi sử dụng trong thời kỳ cho con bú  vì số lượng thuốc qua được sữa mẹ là rất ít.

 Opioids

Các hướng dẫn cho thấy rằng thuốc giảm đau opioid (codein, tramadol, dihydrocodeine (DHC) và morphin) nên được tránh sử dụng ở bất kỳ giai đoạn nào và chỉ được sử dụng dưới sự hướng dẫn và kiểm soát chặt chẽ của chuyên gia y tế.

Xem xét sự khác biệt quan trọng giữa codein và dihydrocodein khi cho con bú và lưu ý rằng tránh dùng codein vì các độc tính nhưng dihydrocodein an toàn hơn khi cho con bú.

Bệnh cúm

Cúm có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng đối với phụ nữ mang thai vì nó làm tăng nguy cơ biến chứng như viêm phế quản, nhiễm trùng hô hấp tiến triển thành viêm phổi.

Cách tốt nhất để tránh mắc cúm là tiêm vắc-xin cúm. Hiện nay, các dữ liệu cho thấy vắc-xin cúm an toàn khi sử dụng cho phụ nữ đang mang thai.

Tài liệu tham khảo

https://www.medscape.com/viewarticle/906502

Ths.Ds Thân Thị Mỹ Linh – Khoa Dược Bệnh viện Từ Dũ (lược dịch)

Bài viết Hướng dẫn mới về giảm đau khi mang thai đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/huong-dan-moi-ve-giam-dau-khi-mang-thai/feed/ 0
Viêm mũi dị ứng khi mang thai – Viêm mũi thai kỳ https://vanquocduocvuong.vn/viem-mui-di-ung-khi-mang-thai-viem-mui-thai-ky/ https://vanquocduocvuong.vn/viem-mui-di-ung-khi-mang-thai-viem-mui-thai-ky/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:00 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/viem-mui-di-ung-khi-mang-thai-viem-mui-thai-ky/ Viêm mũi thai kỳ thực sự là cơn ác mộng của nhiều mẹ bầu. Vậy viêm mũi thai kỳ do đâu mà có? Làm thế nào để giải quyết căn bệnh này? Bài viết này sẽ giúp bà bầu giải đáp các thắc mắc trên. Viêm mũi thai kỳ – viêm mũi dị ứng khi mang thai [...]

Bài viết Viêm mũi dị ứng khi mang thai – Viêm mũi thai kỳ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Viêm mũi thai kỳ thực sự là cơn ác mộng của nhiều mẹ bầu. Vậy viêm mũi thai kỳ do đâu mà có? Làm thế nào để giải quyết căn bệnh này? Bài viết này sẽ giúp bà bầu giải đáp các thắc mắc trên.

Viêm mũi thai kỳ – viêm mũi dị ứng khi mang thai là gì?

Bệnh viêm mũi thai kỳ được định nghĩa là tình trạng nghẹt mũi hoặc sung huyết niêm mạc mũi. Xảy ra tối thiểu 6 tuần trong thời kỳ mang thai. Không phát hiện được bất kỳ dấu hiệu nhiễm trùng nào của đường hô hấp hoặc các nguyên nhân gây dị ứng. Các triệu chứng này mất đi hoàn toàn trong vòng 2 tuần sau sinh đẻ.

Là bệnh tương tự như viêm mũi dị ứng và khá phổ biến ở phụ nữ mang thai. Có khoảng 20-30% phụ nữ mang thai đều mắc bệnh này. Bệnh thường xuất hiện từ tháng thứ 2 của thai kỳ.

Viêm mũi thai kỳ do đâu mà có?

Cơ chế dẫn đến tình trạng viêm mũi thai kỳ chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên các nhà khoa học vẫn đang nghiêng về thuyết liên quan đến sự thay đổi hormon.  Nồng độ estrogen thời kỳ mang thai được cho là có liên quan đến tình trạng viêm mũi này. Mặc dù chưa có nhiều bằng chứng cụ thể  cho vấn đề này.

Tiến sĩ Nina Mehta và nhiều nhà y học cùng cho rằng việc estrogen tăng lên trong quá trình mang thai đã làm tăng phản ứng cholinergic – phản ứng dị ứng. Kết quả là tạo ra kích thích tác động lên các tuyến tiết dịch nhờn ở chân lông mũi đồng thời làm xung huyết niêm mạc mũi dẫn đến sản xuất chất nhày dư thừa gây ra triệu chứng nghẹt mũi.

Triệu chứng thường gặp của chứng viêm mũi thai kỳ thường là:

  • Tắc mũi
  • Nghẹt mũi liên tục
  • Chảy nước mũi lỏng nhớt
  • Có thể có ngứa mũi và hắt hơi.
  • Thở bằng miệng vào ban đêm dẫn đến ảnh hưởng chất lượng giấc ngủ.

Làm thế nào để nhận biết viêm mũi thai kỳ

Bạn nên nhớ lại rằng viêm mũi thai kỳ là bệnh lý xuất hiện vào thời kỳ mang thai và sẽ mất đi hoàn toàn khi đứa con thân yêu của bạn chào đời. Nhưng viêm mũi thai kỳ lại có biểu hiện khá giống với viêm mũi dị ứng thông thường. Đôi khi khá giống các bệnh lý khác như cảm lạnh, cảm cúm, viêm xoang…. Vậy làm thế nào để nhận biết đâu là viêm mũi thai kỳ thực sự ???

Nếu như ngoài triệu chứng nghẹt mũi, chảy nước mũi và hắt hơi bạn có kèm theo các triệu chứng khác như đau họng, đau nhức cơ thể, bị sưng các tuyến mang tai, sưng hạch, hoặc sốt nhẹ thì đó là dấu hiệu của tình trạng nhiễm trùng thực sự hoặc cảm lạnh, cảm cúm.

Trường hợp đau nhức các hốc xoang, nhức đầu, sốt, dịch mũi màu vàng xanh, đau nhức ổ mắt, triệu chứng tăng nặng khi bạn cúi xuống phía trước thì có lẽ tình trạng viêm xoang của bạn đang tiến triển nặng.

Nếu trước khi mang thai bạn đã có tiền sử viêm mũi dị ứng thì thai kỳ chính là thời điểm bệnh tình của bạn khởi phát đợt mới. Và thật khó để kiểm soát được các triệu chứng này.

Viêm mũi thai kỳ có nguy hiểm không và có ảnh hưởng đến thai nhi không?

Hẳn là trong thời gian mang thai, bất kể hiện tượng bất thường nào xảy ra cũng luôn khiến cho các mẹ bầu đặt câu hỏi đầu tiên rằng: “chúng có ảnh hưởng gì đến sinh linh bé nhỏ đang lớn lên trong mình không?”

Thật may mắn khi viêm mũi thai kỳ không ảnh hưởng trực tiếp và tức thì lên thai nhi. Tuy nhiên nếu không kiểm soát tốt sẽ khiến chất lượng giấc ngủ của mẹ giảm sút gây căng thẳng, mệt mỏi. Nặng hơn có thể gây viêm mũi mạn tính, viêm xoang, viêm họng cho phụ nữ mang thai. Bên cạnh đó việc giấc ngủ bị gián đoạn do nghẹt mũi khiến giảm lượng cung cấp oxy cho thai nhi làm tăng nguy cơ tăng huyết ấp thai kỳ, tiền sản giật, nhiễm độc thai nghén, thai nhi chậm phát triển.

Đặc biệt với những phụ nữ có các bệnh lý hô hấp trước khi mang thai như hen, viêm mũi dị ứng, viêm xoang…thì khi mang thai các triệu chứng này sẽ diễn ra rầm rộ hơn ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe, tình cảm của thai phụ.

Làm gì khi bị viêm mũi thai kỳ

Phụ nữ mang thai luôn là đối tượng chống chỉ định trong hầu hết các phương pháp chữa bệnh. Nhưng cũng không vì thế mà bỏ qua việc điều trị đối với các bệnh lý trong gian đoạn mang thai.

Theo khuyến cáo của Hiệp hội thông tin dược phẩm London thì việc áp dụng các phương pháp và chế phẩm điều trị tại chỗ sẽ đem lại hiệu quả cũng như giảm nguy cơ ảnh hương đến thai nhi đối với bệnh lý viêm mũi thai kỳ. Cần hết sức cẩn thận trong  việc lựa chọn phương pháp điều trị đặc biệt là 3 tháng đầu thai kỳ.

Dưới đây là một vài cách điều trị viêm mũi thai kỳ tương đối an toàn

  1. Rửa mũi đúng cách, vệ sinh mũi thường xuyên

  2. Xông mũi bằng thuốc hoặc tinh dầu trị liệu.

  3. Xịt thuốc hoặc khí dung thuốc.

  4. Nằm ngủ gối cao đầu.

  5. Một số thuốc được dùng cho phụ nữ mang thai bị viêm mũi:

  • Natri cromolyn xịt mũi: là sản phẩm có tính an toàn tương đối cao được Cục quản lý dược và thực phẩm Hoa Kỳ FDA xếp loại an toàn độ B.
  • Thuốc kháng Histamine: Loratadine hoặc cetirizin là các thuốc kháng Histamine được khuyên dùng.
  • Các thuốc dùng cho phụ nữ đều phải lựa chọn ở liều thấp nhất và thời gian ngắn nhất. Có như vậy mới phần nào tránh được các tác hại nhất định cho cả mẹ và bé.

Lời khuyên dành cho các mẹ bầu bị viêm mũi thai kỳ:

  • Bạn tham khảo ý kiến các bác sỹ chuyên khoa Sản – phụ trước khi đưa ra quyết định điều trị.
  • An toàn của mẹ và bé luôn cần phải đặt lên hàng đầu.

BS Thanh Mai – Hội Nội khoa Việt Nam

Bài viết Viêm mũi dị ứng khi mang thai – Viêm mũi thai kỳ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/viem-mui-di-ung-khi-mang-thai-viem-mui-thai-ky/feed/ 0
Sử dụng thuốc điều trị viêm mũi dị ứng trong thai kỳ https://vanquocduocvuong.vn/su-dung-thuoc-dieu-tri-viem-mui-di-ung-trong-thai-ky/ https://vanquocduocvuong.vn/su-dung-thuoc-dieu-tri-viem-mui-di-ung-trong-thai-ky/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:00 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/su-dung-thuoc-dieu-tri-viem-mui-di-ung-trong-thai-ky/ Viêm mũi dị ứng thường tồn tại từ trước khi mang thai, mặc dù bệnh có thể phát triển hoặc được ghi nhận lần đầu tiên trong thai kỳ. Bệnh nhân viêm mũi dị ứng đôi khi than phiền có triệu chứng hắt hơi nhiều, ngứa mũi, chảy nước mũi, một số bệnh nhân đồng [...]

Bài viết Sử dụng thuốc điều trị viêm mũi dị ứng trong thai kỳ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Viêm mũi dị ứng thường tồn tại từ trước khi mang thai, mặc dù bệnh có thể phát triển hoặc được ghi nhận lần đầu tiên trong thai kỳ. Bệnh nhân viêm mũi dị ứng đôi khi than phiền có triệu chứng hắt hơi nhiều, ngứa mũi, chảy nước mũi, một số bệnh nhân đồng thời bị ngứa và kích ứng mắt. Bệnh viêm mũi sẵn có từ trước có thể xấu đi, cải thiện, hoặc không thay đổi trong thời gian mang thai. Nguyên nhân phổ biến gây viêm mũi dị ứng gồm mạt bụi, nấm mốc, phấn hoa, lông thú vật.

Viêm mũi dị ứng sẵn có khác với viêm mũi thai kỳ. 

Việc mang thai thường gây ra sung huyết và phù nề niêm mạc mũi. 20 – 30% phụ nữ mang thai có các triệu chứng nghẹt mũi khi mang thai, tình trạng này gọi là viêm mũi thai kỳ. Viêm mũi thai kỳ có thể được định nghĩa là các triệu chứng về mũi trong thời gian mang thai, kéo dài sáu hoặc nhiều tuần mà không có dấu hiệu khác của nhiễm trùng đường hô hấp và nguyên nhân gây dị ứng không rõ, biến mất hoàn toàn trong vòng hai tuần sau khi sinh. Bệnh nhân nghẹt mũi liên tục, kèm theo tiết dịch mũi lỏng hoặc nhớt. Nghẹt mũi có thể dẫn đến thở bằng miệng vào ban đêm và giảm chất lượng giấc ngủ. 

Sinh lý bệnh của viêm mũi thai kỳ chưa được biết rõ. Trước đây, viêm mũi thai kỳ được cho là do sự thay đổi nồng độ estrogen và / hoặc progesterone, mặc dù có rất ít bằng chứng cụ thể chứng minh cho nhận định này. Viêm mũi thai kỳ  thường không cần phải điều trị. Một số biện pháp can thiệp không dùng thuốc có thể hữu ích. Ngoài ra, có một số thuốc đã được nghiên cứu sử dụng trong viêm mũi thai kỳ, mặc dù không có thuốc nào thể hiện hiệu quả rõ ràng. 
      
Dữ liệu cho thấy viêm mũi không ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của thai kỳ. Tuy nhiên, nếu không kiểm soát được, bệnh viêm mũi có thể gián tiếp ảnh hưởng đến thai bằng cách ảnh hưởng đến dinh dưỡng thai kỳ, giấc ngủ, hoặc căng thẳng.  Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy viêm mũi không kiểm soát được có thể là nguyên nhân gây ra ngáy ngủ, điều này có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật và thai chậm phát triển trong tử cung, Không kiểm soát  được bệnh viêm mũi cũng có thể làm trầm trọng thêm bệnh hen suyễn đi kèm hoặc dẫn đến viêm xoang trong quá trình mang thai. Vì vậy, điều trị hợp lý bệnh viêm mũi trong thời kỳ mang thai có thể giúp người phụ nữ tránh khỏi tiếp xúc với các loại thuốc khác, chẳng hạn như thuốc kháng sinh và các glucocorticoid đường  uống.

Thuốc sử dụng trong điều trị viêm  mũi dị ứng cho phụ nữ mang thai gồm có:

1. Natri cromolyn xịt mũi: 

Có thể được coi là một liệu pháp hàng đầu cho viêm mũi dị ứng nhẹ trong thai kỳ do có tính an toàn cao. Natri cromolyn được hấp thu tối thiểu vào hệ tuần hoàn, và được Cục quản lý dược và thực phẩm Hoa kỳ (FDA) phân loại an toàn mức độ B. Không có dữ liệu an toàn cụ thể cho các dạng bào chế dùng đường mũi hay thuốc  nhỏ mắt, mặc dù ba nghiên cứu trên hơn 600 phụ nữ mang thai, bao gồm cả những  người mang thai ba tháng đầu, không phát hiện bất kỳ sự gia tăng nguy cơ khuyết tật bẩm sinh nào với natri cromolyn dạng hít.

Liều lượng của thuốc xịt mũi cromolyn là một nhát xịt mỗi bên mũi lên đến sáu lần mỗi ngày. Sự cần thiết phải dùng thuốc thường xuyên, và hiệu quả thấp hơn so với các phương pháp điều trị mới hơn, đã giới hạn các tiện ích của cromolyn natri. Tuy nhiên, do tính an toàn và có thể mua mà không cần toa bác sĩ giúp cho cromolyn dạng xịt mũi trở thành một lựa chọn khởi đầu hợp lý cho nhiều bệnh nhân. Có thể sử dụng thêm liệu pháp thứ hai đối với những người có triệu chứng kéo dài sau 2-4 tuần sử dụng cromolyn đường mũi.

2. Glucocorticoid dạng xịt mũi:

Dựa trên các dữ liệu sẵn có về tính an toàn của các chế phẩm glucocorticoid dạng hít với liều cao hơn dạng xịt mũi,  glucocorticoid đường mũi có hiệu quả cao đối với viêm mũi dị ứng và được coi là  thích hợp để sử dụng trong thai kỳ. Phụ nữ có thai nên sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả.

Không có sự khác biệt lớn về hiệu quả hoặc tính an toàn giữa các dạng bào chế glucocorticoid dùng đường mũi. Như  vậy, nếu một bệnh nhân đã sử dụng bất kỳ chế phẩm glucocorticoid đường mũi nào và được kiểm soát tốt, việc tiếp tục sử dụng chế phẩm đó trong thời gian mang thai là điều hợp lý. Một số nhà lâm sàng chọn budesonide nếu bắt đầu  glucocorticoid đường mũi lần đầu tiên trong thời kỳ mang thai, vì thuốc này được phân loại mức độ an toàn loại B, trong khi hầu hết các glucocorticoid khác được phân loại C.

3. Thuốc kháng histamin:

Thuốc kháng histamin ít hiệu quả trong điều trị viêm mũi dị ứng so với glucocorticoid đường mũi, đặc biệt là để làm giảm nghẹt mũi và chảy nước mũi trong. Một số nghiên cứu đã đánh giá sự an toàn của thuốc kháng histamin trong thời kỳ mang thai. Hầu hết phụ nữ mang thai có nhu cầu dùng thuốc kháng histamin thích hợp nhất với thế hệ hai, bởi vì các  thuốc này ít có tác dụng an thần và tác dụng phụ cholinergic cũng thấp hơn so với thế hệ một.

Loratadine (10 mg một lần mỗi ngày) và cetirizine (10 mg một lần mỗi ngày) có thể được coi là lựa chọn đầu tay trong số các thuốc kháng histamin thế hệ hai  trong thời kỳ mang thai. Đã có dữ liệu an toàn cho các thuốc này trên một số lượng lớn bệnh nhân mang thai.

Các thuốc kháng histamin thế hệ một có mặt phổ biến trên thị trường, không tốn kém, và có thể hữu ích trong trường hợp mất ngủ. Trong số các thuốc thế hệ một, chlorpheniramin được đề nghị là lựa chọn đầu tay để sử dụng trong thai kỳ. Liều dùng của chlorpheniramin là 4 mg mỗi 4-6 giờ. Tổng liều không được vượt quá 24 mg mỗi ngày.
  
Thuốc xịt mũi kháng histamin: Không có dữ liệu về tính an toàn trên người của azelastine hoặc olopatadine dạng xịt mũi, mặc dù nghiên cứu trên động vật cho thấy an toàn. Cho đến khi có thêm thông tin, nên tránh sử dụng các loại thuốc này trong thời kỳ mang thai, trừ khi bệnh nhân chỉ đáp ứng với duy nhất một trong hai thuốc trên trước khi mang thai.

4Thuốc thông mũi:

Thuốc thông mũi là những thuốc co mạch có mặt trên thị trường ở dạng uống và dạng xịt mũi.

Thuốc thông mũi dùng tại chỗ: Thuốc thông mũi dạng xịt có thể được sử dụng trong thời gian ngắn (ví dụ, ba ngày hoặc ít hơn) để làm giảm tạm thời tình trạng nghẹt mũi nặng. Có một số dữ liệu về tính an toàn trên người của oxymetazoline dùng đường mũi. Sử dụng ngắn hạn (tức là, ba ngày hoặc ít hơn) có thể chấp nhận trong thời kỳ mang thai. Tuy nhiên, bệnh nhân nên được cảnh báo về sự phụ thuộc thuốc nếu sử dụng kéo dài.

Thuốc thông mũi đường uống: Tốt nhất nên hoàn toàn tránh sử dụng thuốc thông mũi đường uống trong 3 tháng đầu thai kỳ do nguy cơ không chắc chắn về một dị tật bẩm sinh hiếm gặp mà các thuốc này gây ra, đó là hở thành bụng.      

Phenylephrine: Nên tránh sử dụng phenylephrine trong thời kỳ mang thai vì hiệu quả không chắc chắn và tính an toàn chưa rõ ràng. 

5Thuốc kháng histamin và thuốc thông mũi kết hợp:

Bệnh nhân viêm mũi dị ứng có triệu chứng nghẹt mũi đáng kể thường báo cáo giảm triệu chứng nhiều hơn khi được điều  trị kết hợp một thuốc kháng histamin và pseudoephedrin so với sử dụng đơn lẻ một trong hai loại thuốc trên. Tuy nhiên, vì pseudoephedrin được khuyến cáo nên tránh sử dụng trong tam cá nguyệt đầu, glucocorticoid xịt mũi là lựa chọn thay thế phù hợp cho phụ nữ mang thai. Thuốc xịt glucocorticoid có hiệu quả đặc biệt trong việc làm giảm nghẹt mũi.

Tài liệu tham khảo:

1. Recognition and management of allergic disease during pregnancy,  UpToDate 2011.
2. Which medicines can be used to treat intermittent allergic rhinitis  during pregnancy?, Alexandra Denby, London Medicines Information  Service, 2012

Ds. Hoàng Thị Vinh

Khoa Dược – BV Từ Dũ

XEM THÊM: Viêm mũi dị ứng thai kỳ và những điều cần biết

Bài viết Sử dụng thuốc điều trị viêm mũi dị ứng trong thai kỳ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/su-dung-thuoc-dieu-tri-viem-mui-di-ung-trong-thai-ky/feed/ 0
Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai https://vanquocduocvuong.vn/dinh-duong-cho-phu-nu-mang-thai/ https://vanquocduocvuong.vn/dinh-duong-cho-phu-nu-mang-thai/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:00 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/dinh-duong-cho-phu-nu-mang-thai/ 1. Vai trò của dinh dưỡng trong thai kỳ Dinh dưỡng tốt không chỉ đóng vai trò quan trọng trong thai kỳ. Nếu chuẩn bị có kế hoạch mang thai, một chế độ ăn uống cân bằng và khỏe mạnh là một trong những phương cách tốt nhất mà người phụ nữ có thể làm cho bản [...]

Bài viết Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
1. Vai trò của dinh dưỡng trong thai kỳ

Dinh dưỡng tốt không chỉ đóng vai trò quan trọng trong thai kỳ. Nếu chuẩn bị có kế hoạch mang thai, một chế độ ăn uống cân bằng và khỏe mạnh là một trong những phương cách tốt nhất mà người phụ nữ có thể làm cho bản thân và cho đứa trẻ của mình.

Khi mang thai thai phụ sẽ cần phải ăn cho 2 người. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là phải ăn gấp đôi. Ăn cho cả 2 người (thai phụ và em bé) nghĩa là phải chú ý vào việc ăn uống nhiều hơn so với trước khi mang thai. Trong suốt thời gian mang thai, thai phụ cần phải gia tăng khẩu phần ăn chứa các thực phẩm giàu sắt, can-xi, acid folic, vitamin và các chất dinh dưỡng cần thiết khác vì các chất này rất quan trọng đối với sự phát triển của thai nhi.

Nếu thai phụ có dinh dưỡng kém hoặc thường xuyên bỏ bữa hoặc ăn giới hạn thực phẩm thì phải thay đổi ngay.

Ngay từ khi có kế hoạch mang thai, điều quan trọng là phải tạo ra một thói quen ăn uống cân bằng và khỏe mạnh vì hầu hết các cơ quan chính của thai nhi đều được hình thành trong những tuần đầu tiên thai kỳ – ở thời điểm ngay cả trước khi thai phụ biết mình mang thai. Ăn ít năng lượng hoặc kém dinh dưỡng làm cho sự phát triển của các tế bào có thể không đạt được sự tối ưu, điều này khiến cho thai nhi bị nhẹ cân lúc sanh, không những làm tăng các nguy cơ sức khỏe cho trẻ ngay lúc sanh mà còn về lâu dài.

Dinh dưỡng trước và quanh thời điểm mang thai cũng quan trọng giống như việc người phụ nữ đi khám trước mang thai để chích ngừa hay phát hiện và ổn định các bệnh lý nội ngoại khoa.

Một chế độ ăn uống đúng không có nghĩa là thai phụ phải tuân thủ theo một chế độ ăn cứng nhắc để đạt được dinh dưỡng và tăng cân phù hợp trong thai kỳ. Để có chế độ ăn uống khỏe mạnh trong thai kỳ thai phụ cần ăn nhiều loại thức ăn, chú ý trong lựa chọn và chế biến thực phẩm và tạo được cảm giác ngon miệng trong mỗi bữa ăn. Thai phụ phải nhớ rằng: ăn gì hoặc uống gì cũng đều ảnh hưởng trực tiếp lên sự phát triển của thai nhi.

2. Tăng cân trong thai kỳ

Cần phải tăng cân trong thai kỳ, tuy nhiên điều này không có nghĩa là tăng cân không giới hạn, tăng cân phù hợp là điều cần thiết cho một thai kỳ khỏe mạnh. Dựa và chiều cao và cân nặng trước khi mang thai mà thai phụ có thể tăng bao nhiêu kg là phù hợp. Nếu thai phụ có cân nặng bình thường so với chiều cao, các nghiên cứu gợi ý khi mang thai nên tăng 25-35 pounds. Cân nặng tăng lên trong thai kỳ không phải chỉ do tăng khối lượng mỡ mà còn là cân nặng của thai nhi, sự gia tăng về thể tích máu, dịch và các phần phụ của thai.

Mẹ Thai và phần phụ của thai
Thể tích máu: 2kg
Tử cung: 1kg
Vú: 1kg
Mô mỡ: 3kg
Thai: 3,5kgBánh rau: 0,6kg

Thể tích ối 1,2kg

Cân nặng phù hợp với mỗi thai phụ dựa vào cân nặng và BMI trước khi mang thai, tiền sử bệnh lý nội khoa, sức khỏe hiện tại, sức khỏe của thai nhi đang phát triển và số lượng thai đang mang.

Nếu có thể nên cố gắng tăng cân từ từ, chủ yếu tăng cân vào TCN 2 và TCN 3. Trong suốt TCN 1 mỗi ngày ăn hơn 150-200 cal, sẽ giúp bạn tăng 1-1,5 pounds/tháng. Nếu hoạt động nhiều thai phụ cần mức năng lượng nhiều hơn. Trong TCN 2 và TCN 3, thai phụ cần chế độ ăn nhiều hơn 400-500 cal mỗi ngày so với chế độ ăn trước khi mang thai.

Hầu hết các khuyến cáo đều khuyên nên tăng 0,5-1 pounds/tuần trong TCN 2 và TCN 3. BMI trên 30 trước khi mang thai có thể làm gia tăng nguy cơ cho mẹ và bé: tăng nguy cơ đái tháo đường, con to, mổ lấy thai, thai dị tật bẩm sinh như tim bẩm sinh hay tật nứt đốt sống. Đối với những thai phụ này, cân nặng trong thai kỳ chỉ nên tăng từ 15-25 pounds hoặc thậm chí là ít hơn nữa, trong đó TCN 1 chỉ nên tăng 2 pounds và 2/3 pounds mỗi tuần trong TCN 2 và TCN 3.

Thai phụ nhẹ cân có BMI thấp (nhỏ hơn 18) cũng làm tăng nguy cơ cho mẹ và bé: tăng nguy cơ sanh non và thai chậm tăng trưởng. Các thai phụ nhẹ cân cần tăng ít nhất 28-48 pounds trong thai kỳ, trong đó 5 pounds cho TCN 1 và ít nhất là 1 pounds cho mỗi tuần trong TCN 2 và TCN 3.

Mức tăng cân khuyến cáo trong thai kỳ

3. Dinh dưỡng cơ bản

Cơ thể cần được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để phát triển, sinh sản và duy trì cuộc sống khỏe mạnh. Có 6 thành phần dinh dưỡng chủ yếu:

  • Tinh bột
  • Đạm
  • Chất béo
  • Vitamin
  • Khoáng chất
  • Nước

Tinh bột, đạm và chất béo là thành phần cung cấp năng lượng cho cơ thể. Vitamin, khoáng chất và nước cần thiết để chuyển hóa tinh bột, đạm và chất béo thành năng lượng và là thành tố cấu tạo nên cơ, xương, máu và các thành phần khác trong cơ thể. Nước còn đóng vai trò là môi trường đệm cho các phản ứng hóa học xảy ra và để đào thải chất bã ra ngoài cơ thể thông qua nước tiểu.

Phụ nữ khi mang thai có nhu cầu về năng lượng, đạm, vitamin, khoáng chất, và nước cao hơn so với không mang thai. Một chế độ ăn khỏe mạnh và cân bằng trong thai kỳ cần đảm bảo các yêu cầu:

  • Cung cấp đủ năng lượng cần thiết để thai phụ tăng cân hợp lý trong thai kỳ.
  • Thành phần thực phNm đưa vào tuân theo khuyến cáo của tháp dinh dưỡng.
  • Ăn đủ các chất dinh dưỡng cần thiết.
  • Uống đủ nước.
  • Ăn đủ chất xơ.
  • Không hạn chế muối.
  • Không uống các chất có cồn.
Tháp dinh dưỡng mới theo Hướng dẫn của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (2005).
Tháp dinh dưỡng mới theo Hướng dẫn của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (2005).

Trong thai kỳ điều quan trọng là phải ăn nhiều loại thức ăn lành mạnh, ăn ít nhất 3 bữa chính mỗi ngày và các bữa nhẹ khác nếu thai phụ bị nghén, nên cố gắng ăn thành nhiều bữa nhẹ hoặc chia nhỏ bữa ăn trong cả ngày.

Cần phải thật cẩn trọng trong việc lựa chọn các thành phần thức ăn và dinh dưỡng của mỗi loại. Đọc kỹ thông tin thành phần dinh dưỡng trên thực phẩm có thể giúp bạn tránh tiêu thụ quá nhiều lượng đường và chất béo-đem lại nhiều năng lượng nhưng ít dinh dưỡng. Thông tin trên thực phẩm còn giúp bạn nhận biết được số lượng chất đường nhân tạo và muối trên những thực phẩm đóng gói sẵn. Mặc dù các chất gây ngọt nhân tạo được cho phép sử dụng là khá an toàn cho sức khỏe, tuy nhiên thai phụ nên hạn chế sử dụng các thức ăn hoặc nước uống có chất gây ngọt nhân tạo, các thực phẩm này có thể là kẹo, yogurt, soda và các loại nước ngọt đóng chai khác.

Nhu cầu muối cũng gia tăng trong khi mang thai, tuy nhiên không nên ăn quá nhiều các thực phẩm chứa nhiều muối đặc biệt khi bạn có cao huyết áp hoặc có biến chứng của thai kỳ.

4. Chế độ ăn khuyến cáo cho phụ nữ có thai

Trước khi mang thai:

  • Nên sử dụng thực phẩm giàu sắt hoặc thực phẩm bổ sung thêm sắt. Dùng thêm thực phẩm giàu vitamin C để làm tăng hấp thu sắt.
  • Uống bổ sung acid folic mỗi ngày (400 mcg).
  • Chế độ ăn cân bằng, bao gồm 3-3,5 chén trái cây và rau cải mỗi ngày, chú ý dùng nhiều loại rau quả với nhiều màu sắc khác nhau.
  • Dùng 3 ly sữa hoặc các loại thực phẩm giàu canxi khác mỗi ngày.
  • Không dùng các thực phẩm chứa cồn.

Trong thai kỳ:

  • Tiếp tục dùng các thực phNm khuyến cáo như trước khi mang thai.
  • Ăn đủ lượng thực phNm để đạt mức tăng cân như khuyến cáo.
  • Trong TCN 1 không cần ăn tăng số lượng thức ăn, tuy nhiên cần phải ăn cân bằng. Nhu cầu năng lượng tăng thêm là 340 calo/ngày trong TCN 2 và 450 calo/ngày trong TCN 3.
  • Không được bỏ bữa ăn. Ăn 3 bữa chính và thêm 2-3 bữa phụ (trái cây hoặc rau cải) mỗi ngày.
  • Nếu không có các biến chứng y khoa, thai phụ nên tập thể dục ít nhất 30 phút/ngày, 5 ngày/tuần với cường độ vừa phải.
  • Chỉ nên dùng thức ăn chế biến sẵn sau khi đã được hâm nóng lại

(Nguồn: What’s a Pregnant Woman to Eat? A Review of Current USDA Dietary Guidelines and My Pyramid).

5. Vitamin và khoáng chất

Cách tốt nhất để bổ sung vitamin và khoáng chất là cung cấp qua thức ăn. Thậm chí khi thai phụ đã được bổ sung các vitamin đầy đủ thì việc chuẩn bị một chế độ ăn cân bằng, khỏe mạnh là rất cần thiết. Thực chất thì việc bổ sung vitamin vẫn không thể nào bù đắp lại cho một chế độ ăn nghèo nàn.

5.1. Acid folic

Acid folic là loại vitamin nhóm B cần thiết trong giai đoạn sớm mang thai. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) và Viện Y tế Công Cộng của Hoa Kỳ đã khuyến cáo tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nên bổ sung 0,4-0,6 mg acid folic mỗi ngày, dù có hay không có kế hoạch mang thai. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cung cấp đủ acid folic sẽ làm giảm rõ rệt nguy cơ dị tật ống thần kinh như tật nứt đốt sống và tật vô não một phần hoặc toàn bộ.

Kết quả từ 4 thử nghiệm trên 6425 thai phụ (Cochrane):

  • Bổ sung acid folic quanh thời điểm thụ thai có tác dụng làm giảm tỷ lệ dị tật ống thần kinh: RR=0,28, KTC 95% 0,13-0,58.
  • Bổ sung acid folic không làm tăng nguy cơ sNy thai, thai ngoài tử cung hay thai chết lưu, tuy nhiên có thể làm tăng tỉ lệ đa thai.
  • Đa vitamin đơn thuần không có liên quan đến dự phòng dị tật ống thần kinh và không có tác dụng hỗ trợ khi sử dụng chung với acid folic.

Dị tật ống thần kinh có thể xảy ra trong 4 tuần đầu tiên của thai kỳ ngay cả trước khi phát hiện ra có thai, vì vậy bắt đầu bổ sung acid folic sau khi có thai có thể không còn hiệu quả bảo vệ cao đối với dị tật ống thần kinh nữa. Nhu cầu acid folic trong thai kỳ là 0,4 mg mỗi ngày.

Nếu thai phụ đã có tiền căn sanh em bé có dị tật ống thần kinh cần bổ sung lượng acid folic lớn hơn # 4 mg/ngày.

Nên bổ sung acid folic 1 tháng trước khi có kế hoạch mang thai và trong suốt 3 tháng đầu của thai kỳ. Tuy nhiên, không nên tiêu thụ hơn 1mg acid folic/ngày nếu không có chỉ định y khoa.

Quá nhiều acid folic có thể làm che dấu đi các dấu hiệu của bệnh thiếu vitamin B12.

Các thức ăn giàu acid folic như: bánh mì ngũ cốc, các loại rau lá xanh, các loại đậu, chuối, cà chua, trái cây và các loại nước ép như cam, bưởi, quýt.

5.2. Sắt

Trên thế giới, uớc tính có khoảng 41,8% thai phụ bị thiếu máu, trong đó gần một nửa là thiếu máu có liên quan đến thiếu sắt.

Sắt là khoáng chất có nhiều trong các loại thịt đỏ, và luôn luôn là một phần quan trọng trong chế độ ăn hàng ngày, sắt càng quan trọng hơn nữa khi mang thai.

Nếu không cung cấp đủ sắt, thai phụ có thể bị thiếu máu thiếu sắt gây mệt mỏi và dễ bị nhiễm trùng. Sắt còn cần thiết để hình thành cơ thể thai nhi và bánh nhau. Ngay lúc sinh, trẻ sơ sinh cần phải dự trữ đủ sắt để sử dụng trong 6 tháng đầu sau sinh.

Trong thai kỳ, nhu cầu sắt là 30mg/ngày – gấp đôi nhu cầu sắt của một người không mang thai. Vì vậy thai phụ cần phải được bổ sung sắt qua viên uống và chế độ ăn giàu chất sắt. Ngoài ra, để cơ thể hấp thu sắt được tốt, cơ thể cần có 1 lượng cao vitamin C. Vì vậy bạn phải ăn thức ăn giàu vitamin C cùng với thức ăn giàu sắt để cơ thể hấp thu sắt tốt hơn.

Các thức ăn chứa sắt cao: các loại thịt đỏ, gia cầm, cá, đậu hủ, cải bó xôi, trái cây khô, các loại hạt như hạnh nhân, hạt điều và đậu phộng.

Bổ sung sắt và acid folic hàng ngày được khuyến cáo là một chương trình quan trọng trong chăm sóc tiền sản giúp làm giảm nguy cơ thai nhẹ cân, nguy cơ thiếu máu và thiếu sắt ở thai phụ (WHO).

Cách bổ sung sắt và acid folic cho phụ nữ mang thai

Nếu có thiếu máu, thai phụ nên được điều trị với sắt (120 mg sắt nguyên tố) và acid folic (400 mcg) hàng ngày cho đến khi nồng độ haemoglobin trở về bình thường, sau đó chuyển về liều bổ sung bình thường trong thai kỳ để phòng bị thiếu máu trở lại.

5.3. Canxi

Canxi giúp cho xương và răng chắc khỏe. Nếu thường xuyên sử dụng các thức ăn chế biến từ bơ sữa, các thức ăn này dễ dàng cung cấp đủ canxi cho cơ thể. Khi mang thai và cho con bú, nhu cầu canxi mỗi ngày là 1000-1500mg/ngày – nhiều hơn 40% so với nhu cầu của một người trưởng thành. Vì vậy trong thai kỳ các thai phụ thường được bổ sung thêm viên canxi uống ở vùng có chế độ ăn chứa canxi thấp. Chú ý nên sử dụng canxi có dạng muối canxi carbonat hoặc canxi citrat để cơ thể hấp thu cao. Không bao giờ sử dụng bột canxi từ vỏ sò hay bột xương – còn được biết là dolomite hay appetite – vì nguy cơ nhiễm chì và các hóa chất độc hại khác.

Các thức ăn chứa nhiều canxi như sữa, bơ, yogurt, cá hồi, cá sardine đóng hộp, rau bó xôi, bông cải xanh, các loại hạt, cam và các loại nước ép khác.

Ở vùng dân cư có chế độ ăn chứa canxi thấp, việc bổ sung canxi trong thai kỳ được khuyến cáo để ngăn chặn tiền sản giật ở phụ nữ có thai, đặc biệt ở các đối tượng có nguy cơ cao bị tiền sản giật (WHO).

Cách bổ sung canxi cho phụ nữ mang thai

5.4. Vitamin D

Bổ sung vitamin D không được khuyến cáo trong thai kỳ để phòng ngừa sự phát triển của tiền sản giật và các biến chứng của nó (WHO). Hơn nữa, hiện tại vẫn còn thiếu các bằng chứng cho thấy các lợi ích hay các bất lợi của việc bổ sung vitamin D đơn thuần trong thai kỳ để cải thiện kết cục mẹ và con là chưa được hiểu biết đầy đủ, do đó việc bổ sung vitamin D thường quy trong thai kỳ không được khuyến cáo.

5.5. Vitamin A

Tình trạng thiếu vitamin A vẫn còn là một vấn đề sức khỏe ở phụ nữ, đang đe dọa lên 19 triệu thai phụ, chủ yếu ở các nước Châu Phi và Đông Nam Á.

Vitamin A là một sinh tố cần thiết cho sức khỏe của mẹ và thai nhi. Vitamin A cần thiết cho sự phân bào, sự phát triển và trưởng thành của cơ quan và hệ xương của thai nhi, nâng cao hệ miễn dịch đề kháng lại sự nhiễm trùng, và sự phát triển thị giác của mẹ và thai. Vì vậy, nhu cầu vitamin A tăng trong thai kỳ, mặc dù lượng vitamin A tăng thêm này là nhỏ và chỉ cần
thiết trong TCN 3. Tuy nhiên, vitamin A cũng có thể gây độc cho mẹ và thai khi hàm lượng đưa vào cơ thể vượt quá 10.000 IU/ngày hoặc 25.000 IU/tuần. Vitamin A liều cao có thể gây dị tật nặng về xương, tim, não, đầu mặt cho thai nhi.

Nhu cầu vitamin A được khuyến cáo trong thai kỳ là 800 mcg RE/ngày (RE: retinol equivalent).

Nguồn cung cấp vitamin A chủ yếu trong rau củ như (cà rốt, đu đủ, bí ngô), gan, dầu cá và các sản phNm từ sữa (sữa chua, phô mai).

Bổ sung vitamin A cho phụ nữ mang thai
Bổ sung vitamin A cho phụ nữ mang thai

5.6. Viên đa sinh tố

Bổ sung thêm kẽm, magnesium, vitamin E trong thai kỳ chưa có bằng chứng cho thấy là có lợi. Vitamin có lợi cho thai kỳ, tuy nhiên bổ sung vitamin liều cao cũng có thể gây hại cho cơ thể.

Hiện tại không có bằng chứng cho thấy việc bổ sung các viên đa sinh tố cho phụ nữ trong thai kỳ để cải thiện kết cục cho mẹ và con là mang lại lợi ích hay bất lợi, bổ sung thường quy viên đa sinh tố trong thai kỳ không được khuyến cáo ngoài trừ bổ sung sắt và acid folic (WHO).

6. Chế biến thức ăn

Ngoài việc lựa chọn thức ăn còn phải lưu ý ăn sạch và nấu chín. Các thay đổi sinh lý trong cơ thể của người phụ nữ khi mang thai có thể làm gia tăng nguy cơ nhiễm độc thức ăn do vi trùng. Hơn nữa, khi bị nhiễm độc thức ăn do vi trùng triệu chứng nhiễm độc ở phụ nữ mang thai có thể nặng hơn so với người không mang thai, thai nhi cũng có thể ảnh hưởng do các độc tố của vi trùng có thể đi qua nhau thai và gây hại cho thai. Salmonella và Listeria là 2 loại khuẩn thường gặp gây nhiễm độc thức ăn, đặc biệt nhiễm listeria có thể gây sảy thai, nhiễm trùng huyết sơ sinh hoặc viêm màng não sơ sinh trong những trường hợp nặng. Để giảm nguy cơ ngộc độc thức ăn thai phụ cần chú ý trong lựa chọn thực phẩm, thường xuyên vệ sinh tủ lạnh, rửa tay hoặc rửa sạch trái cây và rau quả trước khi ăn.

Thịt xay

Các loại harmburger, thịt xay, xúc xích nên được xử lý kỹ, bởi vì E.coli thường có mặt trên bề mặt của miếng thịt sẽ di chuyển vào bên trong khối thịt trong quá trình xay nhuyễn. Khi nấu, nhiệt độ bên trong thường không đủ cao để giết chết E.coli, vì vậy cần hạn chế ăn các loại Burger và xúc xích nếu có thể, chế biến thức ăn từ thịt xay cần phải được nấu chín thật kỹ.

Cá và các loại hải sản có vỏ

Hải sản cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và nên được bổ sung trong khẩu phần ăn khi mang thai. Cá chứa nhiều axit béo, Omega-3 rất tốt cho sự phát triển của não và thai nhi. Tuy nhiên trong các loại hải sản có thể chứa nhiều loại giun sán và ấu trùng của giun sán, vì vầy khi mang thai cần tránh ăn các loại hải sản còn sống hoặc chưa được nấu chín kỹ.

Đối với người ăn chay

Hiện nay có rất nhiều nhiều người ăn chay. Ăn chay mang lại một số lợi ích nhất định cho sức khỏe của con người, người ăn chay ít nguy cơ bị các bệnh lý về tim mạch, ung thư, béo phì, và đái tháo đường type 2 hơn so với người ăn thịt. Nếu thai phụ là người ăn chay, người này vẫn có thể tiếp tục chế độ ăn chay trong thai kỳ mà vẫn có được một em bé khỏe mạnh, nhưng cần phải lên kế hoạch và xem xét lại các loại thức ăn đưa vào. Vitamin B12 chỉ có trong các nguồn thức ăn từ động vật và vi sinh. Người ăn chay rất dễ bị thiếu vitamin B12, vitamin D, kẽm, canxi, sắt, các acid béo omega-3, EPA và DHA. Vì vậy cần phải chú ý rất kỹ và lên kế hoạch cho bữa ăn mỗi ngày:

  • Cần ăn ít nhất 4 loại thực phNm giàu canxi mỗi ngày.
  • Thêm vào các thức ăn giàu năng lượng hơn trong bữa ăn để giúp tăng cân tốt, các thực phẩm này có thể là các loại đậu, bơ làm từ đậu, các loại hạt và trái cây khô.
  • Uống thêm các viên bổ sung, nhiều người ăn chay cần phải uống thêm vitamin B12, việc bổ sung viên đa vitamin trong thai kỳ là cần thiết đối với người ăn chay.

GS.TS Nguyễn Duy Tài – Bộ môn Phụ Sản ĐHYD TP HCM. 

Bài viết Dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/dinh-duong-cho-phu-nu-mang-thai/feed/ 0
Dinh dưỡng cho bà bầu bị nghén nặng https://vanquocduocvuong.vn/dinh-duong-cho-ba-bau-bi-nghen-nang/ https://vanquocduocvuong.vn/dinh-duong-cho-ba-bau-bi-nghen-nang/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:46:54 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/dinh-duong-cho-ba-bau-bi-nghen-nang/ Đa số thai phụ chỉ bị nghén trong 3 tháng đầu, nhưng có người có thể kéo dài hơn. Xin giới thiệu một số món ăn – nước uống giúp giảm bớt sự khó chịu này cho chị em. Nghén khi mang thai là gì? Nghén là triệu chứng hầu hết chị em gặp phải [...]

Bài viết Dinh dưỡng cho bà bầu bị nghén nặng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Đa số thai phụ chỉ bị nghén trong 3 tháng đầu, nhưng có người có thể kéo dài hơn. Xin giới thiệu một số món ăn – nước uống giúp giảm bớt sự khó chịu này cho chị em.

Nghén khi mang thai là gì?

Nghén là triệu chứng hầu hết chị em gặp phải khi mang thai. Chị em thấy đau đầu chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn và nôn, có người nôn quá nặng đến mức không dám ăn uống gì, thường xảy ra vào buổi sáng sau khi thức dậy và sau mỗi bữa ăn.

Nguyên nhân có thể do hoóc-môn từ nhau thai tiết ra khiến nội tiết của mẹ thay đổi và do ăn uống không hợp khẩu vị.

Thông thường, ốm nghén chỉ xảy ra trong 12 tuần đầu mang thai nhưng cũng có không ít chị em phải gánh chịu chứng bệnh này trong suốt 9 tháng 10 ngày. Mức độ của ốm nghén với mỗi bà bầu cũng khác nhau. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân tại sao lại có hiện tượng này nhưng phần lớn các giả thuyết đều cho đó là do sự biến động của nội tiết tố trong cơ thể chị em khi mang thai.

Một số nguyên nhân gây nghén ở phụ nữ mang thai

Dưới đây là một số nguyên nhân được cho là ảnh hưởng trực tiếp tới chứng bệnh ốm nghén ở chị em bầu:

Hoóc-môn HCG hay nội tiết tố HCG:

Hoóc-môn HCG (Human chorionic gonadotropin) là nguyên nhân chính gây ra chứng ốm nghén ở bà bầu. Khi mang thai, mức độ HCG trong cơ thể phụ nữ sẽ tăng lên gấp đôi và điều này dẫn đến chứng bồn nôn, nôn ói trầm trọng. Mức độ HCG cao hay thấp là dấu hiệu báo tuổi thai và các vấn đề sức khỏe liên quan đến thai nhi.

Khứu giác nhạy cảm:

Rất nhiều phụ nữ chia sẻ rằng khi mang thai khứu giác của họ trở lên khó tính hơn và khi ngửi thấy bất cứ mùi gì lạ như: nước hoa, khói thuốc lá, xăng dầu, thực phẩm… đều có thể khiến họ buồn nôn. Theo các nhà nghiên cứu, có một mối liên hệ giữa khứu giác với hoóc-môn estrogen tình dục ở nữ giới. Khi mức độ estrogen tăng lên trong 3 tháng đầu mang thai thì khứu giác cũng dễ bị ảnh hưởng bởi các mùi lạ hơn và điều này giải thích rằng tại sao chị em bầu lại hay nôn ói khi ngửi mùi lạ.

Thay đổi đường tiêu hóa:

Những thay đổi trong hệ tiêu hóa khi mang thai có thể làm nặng hơn triệu chứng ốm nghén. Trong thời gian đầu mang thai, mức độ progesterone tăng lên đáng kể trong tử cung để hỗ trợ phôi thai phát triển. Vì vậy, mức progesterone trong dạ dày, ruột và thực quản cũng tăng lên gây ra chứng chậm tiêu hóa và làm tích tụ thức ăn trong dạ dày dẫn đến khó chịu, buồn nôn, nôn ói.

Cách chữa trị nghén cho phụ nữ mang thai

Bạn có thể hạn chế chứng nôn ói, buồn nôn, ốm nghén bằng những cách thông dụng sau:

– Ăn ít thực phẩm và chia thành nhiều bữa trong ngày.

– Tránh xa các loại thực phẩm kích thích dạ dày như: chất béo, đồ chiên, đồ có mùi khó chịu.

– Ăn uống những thực phẩm có chứa gừng cũng giảm được chứng nôn ói.

– Uống nhiều nước.

– Tập thể dục đều đặn.

– Massage.

– Ăn những thực phẩm khô: bánh mì, bánh quy.

Một số món ăn – thức uống hỗ trợ giải quyết triệu chứng nghén của phụ nữ mang thai

Nước mía: mía tím 300g, gừng tươi 5g. Mía tím nướng cho nóng, bỏ vỏ ép lấy nước. Gừng giã nhỏ cho vào nước mía quấy đều, chắt lấy nước bỏ bã chia 3 lần uống trong ngày, trước khi ăn 30 phút. Cần uống liền 3 – 5 ngày.

Nước ô mai: ô mai 20 quả, gừng tươi 5g, đường đỏ 30g. Cho tất cả vào nồi, thêm 400ml nước đun sôi kỹ chắt lấy nước thuốc đặc, chia 3 lần uống trong ngày trước khi ăn 20 phút. Cần uống liền 3 – 5 ngày

Me, sấu ngâm gừng: quả me 200g, quả sấu 200g, gừng 10g, đường trắng 30g. Quả me, quả sấu cạo bỏ vỏ ngoài đem đồ chín, quả me bóc bỏ vỏ cứng. Gừng giã nhỏ trộn với đường, cho vào cùng quả me, sấu trộn đều, đường tan hết là được.

Cháo ý dĩ: ý dĩ 15g, gạo 100g, gừng 100g, đường đỏ 20g. Ý dĩ, gạo xay thành bột, gừng giã nhỏ cho vào nồi thêm nước đun trên lửa nhỏ cho sôi kỹ đến khi cháo chín nhừ cho đường đỏ vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Ăn ngày 2 lần lúc đói, ăn nóng. Cần ăn liền 3 ngày.

Canh sấu: sấu 5 quả (50g), sườn lợn 200g, bí xanh 100g, bột gia vị vừa đủ. Sấu cạo vỏ rửa sạch, sườn lợn rửa sạch chặt miếng ướp gia vị xào chín, cùng cho vào nồi thêm nước vừa đủ đun sôi kỹ. Bí xanh bỏ vỏ rửa sạch, thái miếng. Khi sườn đã nhừ cho bí xanh vào đun sôi lại là được. Trước khi ăn dầm nát sấu, ăn ngày hai lần lúc đói hoặc ăn với cơm. Cần ăn liền 3 ngày

Canh me: cá trắm cỏ 1 khúc khoảng 300g, me, cà chua, rau cải trắng 100g, dầu ăn, bột ngọt, gia vị vừa đủ. Cá rửa sạch, bổ đôi ướp bột gia vị trong 20 phút. Quả me cạo vỏ ngoài, cà chua rửa sạch thái miếng, rau cải trắng rửa sạch thái nhỏ. Cho cá, cà chua, dầu ăn vào nồi xào, cho cà chua vào xào tiếp, dầm nát cà chua, đổ nước vừa đủ đun sôi thả quả me vào, đun tiếp khi quả me chín thì cho rau cải trắng vào đảo đều, canh sôi lại cho bột ngọt là được. Ăn ngày 1 lần lúc đói, cần ăn liền 3 – 5 ngày.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi mang thai, chị em cần ăn đủ chất dinh dưỡng, ăn các món dễ tiêu, chia thành nhiều bữa nhỏ, tăng cường rau xanh, quả chín, các loại đậu, sữa; kiêng các chất cay, nóng, rượu, cà phê, mỡ động vật, các món quay rán, thức ăn có nhiều gia vị dễ gây nôn. Cần nghỉ ngơi hợp lý, thoải mái về tinh thần, tránh lo sợ, buồn bực. Nếu bị nôn quá nhiều khiến cơ thể gầy sút, mất nước và rối loạn điện giải…, cần phải đến bệnh viện để được điều trị.

 

ThS. BS. Lê Thị Hải – Giám Đốc Trung tâm Dinh dưỡng – Viện Dinh dưỡng Quốc Gia

Bài viết Dinh dưỡng cho bà bầu bị nghén nặng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/dinh-duong-cho-ba-bau-bi-nghen-nang/feed/ 0