Lưu trữ mất ngủ - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/tag/mat-ngu/ Thu, 24 Oct 2024 08:21:45 +0000 vi hourly 1 https://vanquocduocvuong.vn/wp-content/uploads/2022/07/cropped-logo-vanquocduocvuong.png Lưu trữ mất ngủ - Vạn Quốc Dược Vương https://vanquocduocvuong.vn/tag/mat-ngu/ 32 32 Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/ https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/#respond Thu, 24 Oct 2024 08:21:45 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3196 Mất ngủ là một bệnh rối loạn giấc ngủ có tỷ lệ mắc khá cao trong những năm gần đây. Khi thăm khám, bệnh nhân thường than phiền về các triệu chứng như khó ngủ, thức dậy quá sớm hoặc tỉnh giấc giữa chừng, đồng thời kèm theo các biểu hiện như tâm trạng không [...]

Bài viết Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Mất ngủ là một bệnh rối loạn giấc ngủ có tỷ lệ mắc khá cao trong những năm gần đây. Khi thăm khám, bệnh nhân thường than phiền về các triệu chứng như khó ngủ, thức dậy quá sớm hoặc tỉnh giấc giữa chừng, đồng thời kèm theo các biểu hiện như tâm trạng không tốt, mệt mỏi, và khó tập trung. Những triệu chứng này có thể gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến công việc, cuộc sống và giao tiếp xã hội của bệnh nhân.

Trong y học hiện đại, các loại thuốc an thần và gây ngủ thường được sử dụng để giảm bớt triệu chứng mất ngủ, tuy có hiệu quả nhất định, nhưng việc sử dụng lâu dài có thể dẫn đến tình trạng phụ thuộc thuốc, và những loại thuốc này cũng có tác dụng phụ nhất định. Vì vậy, cần lựa chọn phương án điều trị thích hợp. Y học cổ truyền có lịch sử lâu đời và có nhiều ưu thế trong việc điều trị chứng mất ngủ, đã đạt được hiệu quả điều trị rõ rệt. Bài viết này sẽ trình bày về việc điều trị chứng mất ngủ bằng y học cổ truyền.

1. Biểu hiện của chứng mất ngủ

Chứng mất ngủ bao gồm các triệu chứng như khó vào giấc, tỉnh giấc giữa đêm, hoặc không thể ngủ suốt đêm.

Chất lượng giấc ngủ kém có thể khiến người bệnh dễ cáu gắt, khó chịu, và thậm chí gây ra các triệu chứng như hồi hộp, tim đập nhanh. Nếu mất ngủ kéo dài, nó có thể làm suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể và tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác.

Theo 1 nghiên cứu của Trường Y khoa Đại học Pittsburgh năm 2008 thì phần lớn những người bị trầm cảm đều bị rối loạn giấc ngủ. Trầm cảm cũng chiếm tỷ lệ cao trong số những nhóm người mắc nhiều loại rối loạn giấc ngủ.

2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của mất ngủ

Trong các tài liệu cổ điển, mất ngủ được xếp vào các phạm trù như “bất mị”, “bất đắc ngoạ”, “mục bất minh”, “thất miên” và y học cổ truyền cho rằng căn nguyên bệnh lý cơ bản của căn bệnh này là do sự mất cân bằng âm dương.

Y học cổ truyền đã có hiểu biết từ lâu về chứng mất ngủ. Trong cuốn Kim Quỹ Yếu Lược có ghi rằng “hư phiền bất đắc miên” (tức khó ngủ do tâm phiền), và các tác phẩm như Y Lâm Cải ThácCảnh Nhạc Toàn Thư cũng đều đề cập đến chứng bất mị. Khi phân tích từ góc độ “tà chính”, nguyên nhân của chứng mất ngủ khá phức tạp, bao gồm mất cân bằng âm dương và tâm thần bị xáo trộn. Có một số nguyên nhân chính sau:

2.1. Mất điều hòa dinh vệ (dinh vệ thất điều)

Y học cổ truyền cho rằng, khí dinh vệ có công dụng bồi bổ và nuôi dưỡng cơ thể, có mối liên hệ mật thiết với khí huyết, tạng phủ và tân dịch. Dinh khí chủ yếu là phần âm của tinh khí, còn phần dương được gọi là “vệ khí”. Khi dinh vệ mất điều hòa, sẽ dẫn đến khí huyết khuy hư, chức năng tạng phủ mất cân bằng, và tâm thần bất an, từ đó gây ra các triệu chứng mất ngủ. Trong Hoàng Đế Nội Kinh cũng có đề cập đến mối quan hệ giữa mất điều hòa dinh vệ và chứng mất ngủ.

2.2. Mất cân bằng chức năng tạng phủ

Sự xuất hiện của chứng mất ngủ có liên quan chặt chẽ đến sự mất cân bằng chức năng của các tạng như tâm, can, tỳ, thận. Các yếu tố như áp lực tinh thần và áp lực công việc ảnh hưởng lớn đến chức năng tạng phủ.

  • Khi tâm bất an, vì tâm chủ thần chí, sẽ gây ra chứng mất ngủ.
  • Thận chủ về thủy và là cơ quan quan trọng trong quá trình trao đổi chất, có vai trò cân bằng âm dương, nếu thận hư sẽ phá vỡ sự cân bằng này và gây ra mất ngủ.
  • Can chủ về sự thư giãn, nếu chức năng can suy yếu sẽ gây ứ trệ can khí, kết hợp với trạng thái tình chí bất ổn sẽ dẫn đến khó ngủ về đêm.
  • Tỳ sinh huyết, nếu tỳ tổn thương sẽ làm tiêu hao tâm huyết, gây mất cân bằng khí huyết, tâm thần bất an và dẫn đến mất ngủ. Nếu ăn uống không điều độ, sẽ gây tích tụ đàm nhiệt trong dạ dày, quá trình tiêu hóa bị cản trở, khí cơ ứ trệ, và dẫn đến triệu chứng mất ngủ.

2.3. Mất cân bằng âm dương

Mất cân bằng âm dương được coi là cơ chế bệnh lý chung của chứng mất ngủ. Sự điều hòa âm dương của cơ thể phù hợp với quy luật thay đổi của tự nhiên, và điều này ảnh hưởng đến giấc ngủ của con người. Giấc ngủ khỏe mạnh phụ thuộc vào sự vận hành tự nhiên của âm dương trong cơ thể dưới sự kiểm soát của tâm thần. Nếu âm dương mất cân bằng, sẽ gây tác động tiêu cực đến giấc ngủ.

2.4. Tà khí xâm nhập

Tà khí xâm nhập có thể gây ra sự mất cân bằng âm dương trong cơ thể, làm cho tâm hư thất dưỡng gây ra chứng mất ngủ. Tà khí cũng có thể làm rối loạn chức năng của ngũ tạng, gây mất cân bằng trong cơ thể, và là một trong những cơ chế bệnh lý quan trọng gây ra chứng mất ngủ. Trong Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận có ghi rằng: “Tà khí xâm nhập tạng phủ… âm khí hư, mắt không nhắm được”, chỉ rõ rằng tà khí xâm nhập cơ thể là nguyên nhân chính gây ra chứng bất mị.

3. Điều trị bằng thuốc

Theo y học cổ truyền, tâm chủ huyết mạch, khi khí huyết đủ đầy thì tâm thần an định, do đó trong điều trị thường sử dụng các loại thuốc bổ tâm huyết và an thần.

Toan táo nhân thang

Bài thuốc Toan táo nhân thang có xuất xứ từ Kim quỹ yếu lược, được bào chế từ các vị thuốc như phục linh, tri mẫu, toan táo nhân, cam thảo, xuyên khung… có tác dụng trừ phiền an thần. Nghiên cứu của Tôn Khả Đình và cộng sự chỉ ra rằng, khi kết hợp Toan Táo Nhân Thang với thuốc tây Escitalopram, với các vị bổ sung như chi tử, thiền thoái, và đạm đậu xị, nếu bệnh nhân gặp các triệu chứng như chóng mặt, nhiều mộng mị, dễ tỉnh giấc, thì thêm các vị thuốc như trân châu mẫu, đan sâm. Sử dụng một liều mỗi ngày, uống sáng và tối liên tục trong 2 tháng, hiệu quả điều trị đạt 93.33%, cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ sử dụng thuốc tây (P < 0.05). Toan táo nhân thang có tác dụng bổ khí huyết, bổ thận âm, an thần tĩnh tâm, và khi kết hợp với các vị thuốc như chi tử, thiền thoái, đạm đậu xị, có thể tăng cường tác dụng thư can dưỡng huyết, ích khí an thần, giúp giảm các triệu chứng mất ngủ do can khí uất kết.

Cam mạch đại táo thang

Bài thuốc Cam mạch đại táo thang cũng xuất xứ từ Kim quỹ yếu lược, là phương thuốc đại diện trong điều trị chứng tạng táo ở phụ nữ, có tác dụng dưỡng tâm an thần, điều hòa khí cơ, và có hiệu quả trong việc điều trị chứng mất ngủ do can khí uất kết, tâm thần bất an ở phụ nữ. Thành phần bài thuốc gồm cam thảo, phù tiểu mạch (lúa mì), và đại táo, có thể gia giảm theo triệu chứng. Nếu bệnh nhân bị âm hư hỏa vượng, có thể thêm hoàng liên và a giao, nếu có triệu chứng phiền não thì thêm sài hồ và chi tử. Trong Linh khu – Ngũ vị thiên có đề cập: “Bệnh tim, nên ăn mạch”, do lúa mì giàu vitamin nhóm B, tác động tích cực đến hệ thần kinh và hệ nội tiết của cơ thể, giúp làm dịu các triệu chứng lo âu và trầm cảm kèm theo chứng mất ngủ. Theo dược lý hiện đại, lúa mì có tác dụng chống mệt mỏi, an thần, giảm đau và tăng cường miễn dịch; cam thảo bổ dưỡng tâm khí, đại táo bổ khí, hòa giải, dưỡng ẩm và làm dịu. Nghiên cứu dược lý hiện đại cũng chỉ ra rằng, cam thảo có tác dụng chống loạn nhịp tim, đại táo giúp hạ huyết áp, chống mệt mỏi, toàn bộ bài thuốc có tính bình hòa, bổ tâm, điều can và kiện tỳ, mang lại hiệu quả điều trị tốt cho bệnh nhân mất ngủ, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh.

Bán hạ tả tâm thang

Bài thuốc Bán hạ tả tâm thang xuất xứ từ Thương hàn luận, cho rằng chứng mất ngủ có liên quan mật thiết đến tỳ vị, do đó bài thuốc này được dùng để điều trị chứng mất ngủ do tỳ vị bất hòa. Thành phần chính gồm hoàng cầm, bán hạ, can khương, hoàng liên, và đại táo, có tác dụng điều hòa khí cơ tỳ vị.

  • Bán hạ là quân dược, có tác dụng hóa thấp giáng nghịch, chỉ nôn, tiêu ứ kết, được sử dụng từ lâu trong điều trị mất ngủ. Nghiên cứu dược lý hiện đại cũng chứng minh rằng bán hạ có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, giúp an thần và gây ngủ.
  • Khi kết hợp với can khương, bài thuốc có tác dụng ôn trung tán hàn, chỉ thống.
  • Hoàng cầm và hoàng liên điều hòa âm dương, giúp cân bằng khí cơ, kết hợp với nhân sâm và đại táo để bổ trung ích khí, cam thảo giúp giảm bớt tính nóng của thuốc, từ đó đạt được hiệu quả điều trị mất ngủ.

Hoàng liên a giao thang

Trong Thương hàn luận có đề cập rằng: “Thiếu âm bệnh, mắc từ hai đến ba ngày trở lên, tâm phiền, không ngủ được, dùng Hoàng liên a giao thang chủ trị”, đoạn văn này chủ yếu áp dụng cho những bệnh nhân mất ngủ có cơ chế bệnh lý chính là “thận âm suy hư, tâm hỏa vượng“.

Bài thuốc gồm 5 vị thuốc: hoàng liên, hoàng cầm, a giao, thược dược và lòng đỏ trứng gà. Hoàng liên có tác dụng tả tâm hỏa mạnh mẽ, thược dược bổ âm và bổ huyết, giúp hạ nhiệt và trừ phiền, a giao dưỡng âm dịch, hoàng cầm tăng cường hiệu quả thanh hỏa của hoàng liên, lòng đỏ trứng gà dưỡng thận âm và hạ tâm hỏa.

Nghiên cứu công bố năm 2021 cho thấy, khi điều trị bệnh nhân tiểu đường kết hợp mất ngủ bằng Hoàng Liên A Giao Thang gia giảm, thêm toan táo nhân, long nhãn, bá tử nhân để tư âm thanh nhiệt, dưỡng tâm an thần, đã giúp giảm điểm số chất lượng giấc ngủ PSQI so với nhóm đối chứng một cách rõ rệt (P < 0.05). Điều này cho thấy bài thuốc có hiệu quả trong điều trị mất ngủ và được bệnh nhân công nhận.

Sài hồ long cốt mẫu lệ thang

Sài hồ long cốt mẫu lệ thang là phương thuốc kinh điển từ Thương hàn luận, thường dùng để điều trị chứng thiếu dương bệnh kèm tâm đởm bất an. Thành phần chính bao gồm tiểu sài hồ thang, cam thảo, long cốt, mẫu lệ, và phục linh. Tiểu sài hồ thang có công dụng hòa giải thiếu dương, phù chính khứ tà, điều hòa khí cơ. Khi kết hợp với long cốt và mẫu lệ, hai vị thuốc này có tác dụng trọng trấn an thần, long cốt giúp bình can tiềm dương, mẫu lệ làm mềm kết tụ và giải trừ sự uất ức, cả hai đều có tác dụng an thần. Sài hồ giải uất và thư giãn can khí, chữa các triệu chứng ứ trệ khí cơ do can không sơ tiết, gây ra trầm cảm và mất ngủ. Phục linh bổ tâm tỳ và giúp an thần. Các vị thuốc phối hợp có công dụng sơ can giải uất, trọng trấn an thần. Nghiên cứu dược lý hiện đại chỉ ra rằng, thành phần saponin trong sài hồ có tác dụng an thần và ổn định thần kinh.

Một nghiên cứu năm 2020 cho thấy điều trị Sài hồ gia long cốt mẫu lệ đơn lẻ có hiệu quả hơn các loại thuốc thông thường bằng cách giảm PSQI, cải thiện tỷ lệ hiệu quả lâm sàng, kéo dài tổng thời gian ngủ ddoognf thời tỷ lệ tác dụng phụ cũng thấp hơn so với nhóm đối chứng.

Quy tỳ thang

Quy tỳ thang, xuất xứ từ Nghiêm thị tế sinh phương, chủ yếu bao gồm các vị thuốc như cam thảo, long nhãn, toan táo nhân, hoàng kỳ, đại táo, viễn chí và mộc hương… Toàn bài thuốc có tác dụng bổ khí kiện tỳ, an thần, dưỡng huyết và an tâm. Quy tỳ thang tập trung vào việc điều trị tâm tỳ, vì tỳ hư sẽ làm cho khí huyết không đủ, trong khi tỳ vượng sẽ giúp khí huyết được sinh hóa đầy đủ, từ đó có thể giúp giảm nhẹ các triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

XEM THÊM: QUY TỲ THANG

Điều trị không dùng thuốc

4.1. Phương pháp châm cứu

Châm cứu là một kỹ thuật chăm sóc sức khỏe phổ biến trong y học cổ truyền, có tác dụng điều hòa âm dương và thông kinh mạch. Vì mất ngủ liên quan chặt chẽ đến sự mất cân bằng âm dương, nên áp dụng phương pháp này vào điều trị mất ngủ có thể mang lại kết quả tốt.

Phương pháp châm cứu bổ trợ an thần, bắt đầu từ việc điều trị hai tạng tỳ và thận, kết hợp với Đổng thị kỳ huyệt và kỹ thuật đảo mã châm pháp, châm cứu thông thường, chú trọng cả triệu chứng và căn nguyên, vừa bổ vừa tả, khai thông khí cơ và mạch lạc, bổ ích khí huyết. Khi khí huyết cân bằng, mạch lạc thông suốt, ngũ tạng điều hòa thì tâm thần sẽ an định.

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cho thấy, sau khi điều trị châm cứu, nồng độ oxyhemoglobin trong não của bệnh nhân mất ngủ không do tổn thương thực thể có sự thay đổi, đặc biệt là ở vùng vỏ não trán và đỉnh. Điều này giúp điều chỉnh sự kích hoạt của các vùng não, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ.

4.2. Phương pháp xoa bóp

Xoa bóp là một phương pháp trị liệu không xâm lấn, có độ an toàn cao trong điều trị mất ngủ. Từ những thủ thuật xao bóp đơn giản cho đến các thủ thuật xao bóp đặc biệt như xoa bóp tạng phủ Tân Cô đều hướng tới 1 mục tiêu là khơi thông kinh lạc, điều hòa những rối loạn chức năng tạng phủ tạo ra sự thông suốt trong vận hành khí huyết, cân bằng âm dương qua đó cải thiện chất lượng giấc ngủ.

Một số phương pháp xao bóp như tác động ấn vào hai mạch xung, nhâm, nhấn vào huyệt Thần Khuyết trên mạch nhâm để duy trì hoạt động bình thường của khí cơ trong cơ thể. Sử dụng phương pháp nắm và vuốt trên mạch đốc để điều hòa khí dinh vệ, cuối cùng dùng phương pháp véo và nắn mạch đới để làm mềm các kinh mạch, giúp khí cơ được lưu thông, âm dương tương hỗ, và tâm thần an tĩnh, giúp dễ ngủ.

Bên cạnh đó việc kết hợp liệu pháp xoa bóp bấm huyệt vùng đầu cổ (huyệt Thái Dương, An Miên, Bách Hội…) với thuốc thang bổ khí dưỡng huyết… sẽ giúp trừ tà khí, thư giãn gân cốt, thông kinh lạc, điều hòa khí huyết ở đầu, giúp não bộ được nuôi dưỡng, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

4.3. Phương pháp sử dụng các huyệt ở tai

Phương pháp dán hạt vương bất lưu hành và ấn huyệt tai là một kỹ thuật thường được sử dụng trong điều trị chứng mất ngủ. Phương pháp này có tác dụng điều chỉnh chức năng của các tạng phủ và kinh mạch trong cơ thể, giúp chúng hoạt động bình thường, từ đó cải thiện triệu chứng mất ngủ. Theo quan niệm y học cổ truyền, mười hai kinh mạch của cơ thể đều liên kết với tai, vì vậy, việc kích thích các huyệt vị tương ứng trên tai có thể giúp thông kinh mạch. Một số huyệt được lựa chọn như Thần môn, Giao cảm, Tâm huyệt, Can huyệt, Tỳ huyệt. Trong đó

  • Thần môn là huyệt chính điều trị mất ngủ có tác dụng bổ tâm dưỡng huyết, nhu dưỡng tâm thần.
  • Phối với huyệt Giao cảm có tác dụng dưỡng tâm ngưng thần, ích âm thanh nhiệt.
  • Tâm huyệt hoạt huyết hành huyết.
  • Can huyệt sơ can lý khí.
  • Thận huyệt giao thông tâm thận.
  • Tỳ huyệt dưỡng huyết sinh mạch.

Việc sử dụng miếng dán hạt vương bất lưu hành vào các vùng huyệt trên tai có thể tác động đến các dây thần kinh liên quan đến giấc ngủ, đồng thời giúp điều hòa âm dương, điều hòa khí huyết, điều hòa chức năng tạng phủ.

Việc ấn hạt vương bất lưu hành với lực, tần suất khác nhau có thể tạo ra các kích thích khác nhau tương đương với phép bổ tả trong y học cổ truyền. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ấn nhẹ hạt vương bất lưu hành và day chậm kích thích nhẹ nhàng trên các huyệt vùng tai có hiệu quả tốt trong điều trị mất ngủ do tâm tỳ hư.

4.4. Phương pháp cứu ngải

Cứu ngải là một phần quan trọng trong y học cổ truyền, có tác dụng bổ dương, trừ hàn, ôn kinh, và thông kinh mạch.

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng châm cứu kết hợp với cứu ngải có tác dụng rõ ràng đối với chứng mất ngủ sau đột quỵ.

Một nghiên cứu của Hình Việt và Khổng Mã Lệ cũng cho thấy khi điều trị cho bệnh nhân sau đột quy, kết hợp châm cứu ngũ tạng du (Tâm du, Phế du, Tỳ du, Thận du, Can du) và cứu ngải huyệt Dũng tuyền sau 4 tuần bệnh nhân đã giảm đáng kể các triệu chứng mất ngủ, mệt mỏi, hồi hộp, mức serotonin 5-HT và dopamine giảm rõ rệt. Cứu ngải huyệt Dũng tuyền giúp cải thiện tuần hoàn máu cục bộ, kích thích sự lưu thông của tâm hỏa, dẫn hỏa quy nguyên và giao thông tâm thận, từ đó cải thiện chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân.

Phương pháp cứu ngải vùng bụng tác động lên mạch Nhâm, một phần kinh thận và kinh vị đi qua. Phương pháp cứu ngải ôn ấm, kết hợp với tác dụng của ngải cứu được truyền qua cơ thể, giúp bổ khí dưỡng huyết, bồi bổ nguyên khí, cân bằng âm dương. Khi kết hợp với châm cứu, phương pháp này có thể nâng cao hiệu quả lâm sàng, giúp giảm triệu chứng mất ngủ cho bệnh nhân.

Mất ngủ là căn bệnh phổ biến trong quá trình phát triển xã hội hiện nay, không chỉ thường gặp ở người cao tuổi mà tỷ lệ mắc bệnh cũng đang có xu hướng trẻ hóa. Nếu không được chú trọng, mất ngủ có thể gây hại đến sức khỏe thể chất và tinh thần của con người. Các phương pháp điều trị trong y học hiện đại còn đơn điệu và không nên sử dụng thuốc trong thời gian dài. Y học cổ truyền, như một phương pháp quan trọng, với việc điều trị bằng cách biện chứng luận trị, có thể điều chỉnh chức năng tạng phủ ở nhiều mức độ và đa mục tiêu, từ đó cải thiện tình trạng bệnh. Các phương pháp điều trị bên ngoài như châm cứu, nhĩ châm mang lại cảm giác thoải mái và dễ thực hiện, tạo ra những lợi thế nhất định trong điều trị mất ngủ.

BS Uông Mai tổng hợp

Bài viết Quan điểm điều trị chứng mất ngủ của Đông y đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/quan-diem-dieu-tri-chung-mat-ngu-cua-dong-y/feed/ 0
Giải pháp điều trị mất ngủ vừa an toàn vừa hiệu quả https://vanquocduocvuong.vn/giai-phap-dieu-tri-mat-ngu-vua-an-toan-vua-hieu-qua/ https://vanquocduocvuong.vn/giai-phap-dieu-tri-mat-ngu-vua-an-toan-vua-hieu-qua/#respond Fri, 18 Oct 2024 16:34:43 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3193 Mất ngủ chủ yếu biểu hiện qua: khó đi vào giấc ngủ, dễ tỉnh giấc, dậy sớm, và có thể gặp ở nhiều loại bệnh, trong đó phổ biến nhất là rối loạn mất ngủ (thường gọi là “chứng mất ngủ”). Ngoài rối loạn mất ngủ, nhiều bệnh lý cơ thể, rối loạn tâm thần [...]

Bài viết Giải pháp điều trị mất ngủ vừa an toàn vừa hiệu quả đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Mất ngủ chủ yếu biểu hiện qua: khó đi vào giấc ngủ, dễ tỉnh giấc, dậy sớm, và có thể gặp ở nhiều loại bệnh, trong đó phổ biến nhất là rối loạn mất ngủ (thường gọi là “chứng mất ngủ”). Ngoài rối loạn mất ngủ, nhiều bệnh lý cơ thể, rối loạn tâm thần và rối loạn giấc ngủ khác cũng có thể gây ra mất ngủ, như: cường giáp, trầm cảm, lo âu, hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (thường gọi là “chứng ngáy”), hội chứng chân không yên…. Ngoài bệnh lý, khi gặp các sự kiện không vui trong cuộc sống, căng thẳng, tức giận, con người cũng dễ gặp phải tình trạng mất ngủ. Điều trị mất ngủ chủ yếu bao gồm hai khía cạnh: điều trị nguyên nhân và điều trị triệu chứng.

Điều trị nguyên nhân

Mất ngủ có nhiều nguyên nhân, vì vậy trước tiên cần tìm ra nguyên nhân gốc rễ của mất ngủ với sự giúp đỡ của bác sĩ. Khi nguyên nhân chính được điều trị, tình trạng mất ngủ sẽ được cải thiện.

Nếu nguyên nhân là trầm cảm, thường biểu hiện qua tâm trạng uể oải, không hứng thú, mệt mỏi, thì sau khi điều trị trầm cảm, tâm trạng bệnh nhân cải thiện, giấc ngủ cũng được cải thiện.

Nếu nguyên nhân là hội chứng chân không yên, thường biểu hiện qua cảm giác khó chịu ở chân như đau, nhức, ngứa, hoặc co giật vào buổi tối, thì sau khi bổ sung dopamine hoặc điều trị phù hợp, tình trạng này sẽ biến mất và giấc ngủ cũng được cải thiện.

Nếu mất ngủ do các sự kiện không vui, căng thẳng hay tức giận, thì cần điều chỉnh tâm lý.Làm thế nào để điều chỉnh tâm lý?

Việc phát triển cách nhìn tích cực và học cách thể hiện cảm xúc tiêu cực là hai phương pháp tự điều chỉnh tâm lý phổ biến nhất.

Phát triển cách nhìn tích cực

Bất cứ sự việc gì cũng có mặt tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, nhiều người thường chỉ thấy khía cạnh tiêu cực của vấn đề, khiến họ dễ tức giận và căng thẳng. Ví dụ, khi mất một món đồ, họ thường nghĩ rằng mình xui xẻo và lo lắng, mà không nhìn nhận theo cách “trong cái rủi có cái may”. Hoặc khi gặp một công việc thách thức, họ thường nghĩ rằng mình không đủ khả năng hoàn thành, mà không thấy được thách thức là động lực để phát triển bản thân. Nếu chúng ta có thể thay đổi cách suy nghĩ, nhìn nhận sự việc từ mặt tích cực, tâm trạng của chúng ta sẽ tốt hơn, từ đó tránh được mất ngủ do căng thẳng và các sự kiện trong cuộc sống gây ra.

Học cách thể hiện cảm xúc tiêu cực

Mỗi người đều có thể trải qua những cảm xúc tiêu cực như chán nản, tức giận, uất ức, buồn bã…. Khi những cảm xúc tiêu cực này xuất hiện, nếu chúng ta không thể thể hiện chúng kịp thời, điều đó sẽ gây hại cho cả thể chất lẫn tinh thần. Vậy làm thế nào để thể hiện chúng? Có một số cách chính như sau:

  • tâm sự với người thân, bạn bè hoặc chuyên gia tâm lý;
  • tập thể dục, du lịch hoặc hét lớn ở nơi thoáng đãng;
  • viết ra cảm xúc tiêu cực của mình, chẳng hạn như viết nhật ký cảm xúc;
  • hoặc thực hành thiền định để nhận thức rõ cảm xúc của mình trong quá trình thiền.

Mọi người có thể lựa chọn một hoặc nhiều phương pháp phù hợp với bản thân để thể hiện cảm xúc tiêu cực.

Điều trị triệu chứng

Điều trị triệu chứng chủ yếu bao gồm hai phương diện: điều trị bằng thuốc và điều trị hành vi.

Điều trị bằng thuốc

Các loại thuốc điều trị mất ngủ chủ yếu bao gồm

  • nhóm thuốc an thần gây ngủ thuộc họ benzodiazepine (như estazolam, alprazolam, diazepam, clonazepam, v.v.)
  • nhóm thuốc không phải benzodiazepine (như zolpidem, zopiclone, eszopiclone, zaleplon, v.v.).
  • Ngoài ra, còn có một số loại thuốc chống trầm cảm và thuốc chống loạn thần có tác dụng an thần như mirtazapine, trazodone, doxepin, quetiapine, olanzapine, v.v.

Bệnh nhân cần tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ để lựa chọn loại thuốc phù hợp, tránh tự ý sử dụng thuốc.

Thuốc an thần gây ngủ đều có khả năng gây nghiện ở mức độ nhất định, và nếu sử dụng không đúng cách, có thể dẫn đến lệ thuộc thuốc. Vậy làm thế nào để tránh nghiện thuốc an thần gây ngủ? Điều quan trọng là nắm vững những nguyên tắc cơ bản trong việc sử dụng thuốc an thần gây ngủ, bao gồm:

  • Ngắn hạn: Sử dụng thuốc an thần gây ngủ trong thời gian ngắn thường không dẫn đến nghiện. Tuy nhiên, nếu dùng lâu dài, nguy cơ nghiện sẽ tăng lên. Sử dụng ngắn hạn nghĩa là không nên dùng liên tục quá 4 tuần.
  • Liều nhỏ: Liều lượng thuốc an thần gây ngủ càng lớn, nguy cơ nghiện càng cao. Vì vậy, cần sử dụng liều thấp nhất có thể để cải thiện giấc ngủ và không vượt quá liều tối đa cho phép. Nếu hiệu quả giảm dần, nên chuyển sang loại thuốc khác có cơ chế tác dụng khác.
  • Ngắt quãng: Nguy cơ nghiện thuốc khi sử dụng liên tục cao hơn nhiều so với khi dùng ngắt quãng. Do đó, không nên uống thuốc mỗi ngày. Hãy cố gắng tự mình đi vào giấc ngủ, và chỉ dùng thuốc khi thực sự không thể ngủ được, thay vì dùng thuốc theo thói quen trước khi ngủ. Nếu không thể từ bỏ thuốc an thần, hãy thử phương pháp “ngừng thuốc vào cuối tuần”, nghĩa là dùng thuốc vào các ngày làm việc để đảm bảo giấc ngủ, nhưng không dùng vào cuối tuần khi không có lịch trình quan trọng.
  • Theo nhu cầu: Sau khi tình trạng mất ngủ được cải thiện, nếu thỉnh thoảng lại xuất hiện mất ngủ do những sự kiện lớn, thay đổi múi giờ, v.v., có thể tạm thời dùng thuốc an thần gây ngủ để giúp đi vào giấc ngủ, tránh để một đợt mất ngủ ngắn hạn khiến bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

Điều trị hành vi

Điều trị hành vi là phương pháp điều trị ưu tiên cho chứng mất ngủ, bao gồm các kỹ thuật kiểm soát kích thích, hạn chế giấc ngủ, luyện tập thư giãn và tạo thói quen ngủ lành mạnh.

Điều trị kiểm soát kích thích

Trong điều kiện bình thường, môi trường phòng ngủ và giường sẽ tạo ra cảm giác buồn ngủ, giúp con người dễ dàng chìm vào giấc ngủ. Tuy nhiên, đối với người bị mất ngủ, khi vào phòng ngủ và nằm trên giường, não bộ lại trở nên kích thích và khó ngủ. Điều trị kiểm soát kích thích nhằm mục đích điều chỉnh lại phản xạ có điều kiện này, thiết lập lại mối liên hệ giữa phòng ngủ, giường và giấc ngủ nhanh. Yêu cầu cụ thể là:

  • Đi ngủ khi cảm thấy buồn ngủ.
  • Không lên giường quá sớm khi chưa buồn ngủ, chỉ lên giường khi có cảm giác buồn ngủ; nếu không thể ngủ sau 20 phút nằm trên giường, hãy rời khỏi giường, thực hiện bài tập thư giãn hoặc làm điều gì đó thư giãn. Khi cảm thấy buồn ngủ, quay lại giường và thử ngủ lại. Nếu sau 20 phút vẫn không thể ngủ, tiếp tục rời khỏi giường để thư giãn và lặp lại quy trình này.
  • Cấm thực hiện các hoạt động không liên quan đến giấc ngủ trên giường, chẳng hạn như ăn uống, xem điện thoại di động hoặc TV, đọc sách, nghe đài và suy nghĩ về những vấn đề phức tạp, v.v.
  • Duy trì thời gian thức dậy đều đặn. Dù đêm trước ngủ không ngon, vẫn cần phải thức dậy đúng giờ vào ngày hôm sau. Tránh ngủ bù hay ngủ trưa vào ngày hôm sau.

Liệu pháp này thiết lập lại phản xạ có điều kiện lành tính giữa thức và ngủ và được khuyến cáo là phương pháp điều trị không dùng thuốc “tiêu chuẩn” cho những trường hợp khó ngủ và khó duy trì giấc ngủ.

Điều trị hạn chế giấc ngủ

Phương pháp này hạn chế thời gian nằm trên giường nhằm tích lũy động lực cho giấc ngủ. Càng rời giường và giữ cho mình tỉnh táo lâu, động lực cho giấc ngủ càng lớn và dễ dàng đi vào giấc ngủ hơn. Trước khi thực hiện phương pháp này, cần đánh giá khả năng ngủ thực tế của bệnh nhân, tức là tính toán thời gian trung bình họ thực sự ngủ trong tuần gần đây. Sau đó, điều chỉnh thời gian nằm trên giường phù hợp với thời gian trung bình này.

  • Giảm thời gian trên giường để thời gian trên giường phù hợp với thời gian ngủ thực tế. Khi hiệu quả giấc ngủ được duy trì trên 85% trong ít nhất 1 tuần, thời gian trên giường có thể tăng thêm từ 15 đến 20 phút;
  • Khi hiệu quả giấc ngủ thấp hơn 80% Giảm thời gian trên giường từ 15 đến 20 phút
  • Giữ nguyên thời gian trên giường khi hiệu quả giấc ngủ từ 80% đến 85%
  • Ngủ trưa đều đặn không quá 30 phút; , tránh những giấc ngủ ngắn vào ban ngày và duy trì thời gian thức dậy đều đặn.

Ví dụ: nếu bệnh nhân trung bình ngủ 6 tiếng mỗi ngày trong tuần qua, thì thời gian nằm trên giường sẽ bị giới hạn ở mức 6 tiếng. Khuyến nghị bệnh nhân đi ngủ lúc 11 giờ tối và dậy lúc 5 giờ sáng, thời gian còn lại không nằm trên giường. Dù thời gian và chất lượng giấc ngủ có kém đến đâu, vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt giờ giấc đi ngủ và dậy. Khi chất lượng giấc ngủ cải thiện, có thể dần dần kéo dài thời gian nằm trên giường, mỗi tuần tăng thêm 15 phút cho đến khi trở lại thời gian ngủ bình thường.

Luyện tập thư giãn

Luyện tập thư giãn nhằm giảm bớt căng thẳng thể chất và tinh thần trước khi ngủ. Các phương pháp phổ biến nhất bao gồm thư giãn cơ bắp tiến triển, tập thở và thiền định.

Liệu pháp thư giãn nhằm mục đích cải thiện chứng mất ngủ bằng cách giảm các kích thích tự phát, căng cơ và những suy nghĩ cản trở giấc ngủ ở người mất ngủ.

XEM THÊM: Thư giãn bằng các bài tập thở – liệu pháp đơn giản tốt cho phổi

Tạo thói quen ngủ lành mạnh

  • Thực hiện các hoạt động thể chất thường xuyên, tránh vận động mạnh trong vòng hai giờ trước khi ngủ;
  • Kiểm soát lượng tiêu thụ cà phê và trà, tránh uống trong vòng 8 giờ trước khi ngủ;
  • Không dùng rượu để gây ngủ;
  • Ăn bữa tối dễ tiêu hóa, tránh ăn quá no hoặc quá đói;
  • Không thực hiện các hoạt động không liên quan đến giấc ngủ trên giường hoặc trong phòng ngủ, chẳng hạn như đọc sách, dùng điện thoại, xem tivi, nghe nhạc;
  • Tránh tham gia vào các hoạt động quá kích thích trước khi ngủ, như xem phim truyền hình hoặc phim điện ảnh có cốt truyện căng thẳng, nghe nhạc rock, hoặc tham gia các cuộc tranh luận.

Điều trị bằng y học cổ truyền Trung Quốc

Các liệu pháp không dùng thuốc được y học cổ truyền sử dụng để điều trị chứng mất ngủ bao gồm châm cứu, xoa bóp, giác hơi, bấm huyệt, điện châm, nhĩ châm, thủy châm…. Thông qua các phương pháp điều trị không dùng thuốc ở trên, người mất ngủ có thể cải thiện tình trạng của mình mà không cần dùng thuốc, điều này rất đáng để thử. 

Bài viết Giải pháp điều trị mất ngủ vừa an toàn vừa hiệu quả đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/giai-phap-dieu-tri-mat-ngu-vua-an-toan-vua-hieu-qua/feed/ 0
Những nghiên cứu mới về bài thuốc Quy tỳ thang https://vanquocduocvuong.vn/nhung-nghien-cuu-moi-ve-bai-thuoc-quy-ty-thang/ https://vanquocduocvuong.vn/nhung-nghien-cuu-moi-ve-bai-thuoc-quy-ty-thang/#respond Fri, 18 Oct 2024 15:45:53 +0000 https://vanquocduocvuong.vn/?p=3184 Đôi nét về lịch sử Quy tỳ thang và phụ phương Lịch sử bài thuốc Quy tỳ thang Quy tỳ thang lần đầu tiên được ghi chép trong “Tế sinh phương” của Nghiêm Dụng Hòa thời Tống (năm 1253, về sau còn được gọi là Tế sinh quy tỳ thang), nguyên văn trong sách viết: [...]

Bài viết Những nghiên cứu mới về bài thuốc Quy tỳ thang đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Đôi nét về lịch sử Quy tỳ thang và phụ phương

Lịch sử bài thuốc Quy tỳ thang

Quy tỳ thang lần đầu tiên được ghi chép trong “Tế sinh phương” của Nghiêm Dụng Hòa thời Tống (năm 1253, về sau còn được gọi là Tế sinh quy tỳ thang), nguyên văn trong sách viết: “Quy tỳ thang trị tư lự quá độ, lao tổn tâm tỳ, hay quên và hồi hộp.”

Đến thời Tống, Dương Sĩ Doanh trong “Nhân trai trực chỉ phương” (năm 1264) bổ sung thêm: “Quy tỳ thang trị tư lự tổn thương tỳ, không thể thống nhiếp tâm huyết, dẫn đến phản hành, hoặc nôn ra máu, đi ngoài ra máu.”

Vào thời Nguyên, Nguy Diệc Lâm trong “Thế y đắc hiệu phương” (năm 1337) lại phát triển thêm: “Quy tỳ thang trị tư lự tổn thương tỳ, hay quên, vì tỳ không thể thống nhiếp tâm huyết, huyết vong hành, hoặc nôn ra máu, đi ngoài ra máu.”

Qua sự giải thích của hai tác phẩm này, thuyết “tỳ không thống nhiếp tâm huyết” đã được phát triển thành “tỳ không thống huyết” trong thời Minh và Thanh, và trở thành một trong những lý luận cơ bản thường được trích dẫn trong lâm sàng trị liệu các bệnh chứng liên quan đến máu của y học cổ truyền ngày nay.

Phụ phương của Quy tỳ thang

Bài thuốc gốc Tế sinh quy tỳ thang gồm 10 vị thuốc: Bạch truật, Phục linh, Hoàng kỳ, Long nhãn, Toan táo nhân, Nhân sâm, Mộc hương, Cam thảo, Sinh khương và Đại táo.

Các y gia đời sau đã tùy chứng mà gia giảm, như đời Minh, Tiết Lập Trai trong “Giáo chú phụ nhân lương phương” thêm Đương quy và Viễn chí vào phương để trị các chứng bệnh của phụ nữ, đó là Quy tỳ thang thường dùng trong lâm sàng ngày nay.

Nếu thêm Đan bì và Chi tử thì được bài thuốc Gia vị quy tỳ thang (trong “Y giản”) để trị các chứng uất kết tổn thương tỳ.

Thêm Thục địa vào Tế sinh quy tỳ thang sẽ được bài thuốc Hắc quy tỳ thang (trong “Ngân hải chỉ nam”).

Đời Minh, “Cảnh Nhạc toàn thư” phát triển thành Quy tỳ hoàn, và đời Thanh, “Lịch khoa toàn thư” phát triển ra Gia giảm quy tỳ thang.

Phân tích sơ qua về cấu trúc bài thuốc Quy tỳ thang

Hoàng kỳ và Long nhãn nhục là quân dược, bổ tỳ ích khí, dưỡng tâm an thần;

Nhân sâm và Bạch truật giúp Hoàng kỳ ích khí sinh huyết; Đương quy hỗ trợ Long nhãn nhục bổ huyết dưỡng tâm, cả ba là thần dược.

Toan táo nhân, Phục linh (thường dùng Phục thần) và Viễn chí có thể an thần; Mộc hương lý khí tỉnh tỳ, bốn vị này là tá dược.

Cam thảo sao là sứ dược, điều hòa các vị thuốc; thêm Sinh khương và Đại táo giúp điều hòa tỳ vị.

XEM THÊM: Sản phẩm Quy tỳ cao

Quy tỳ thang chữa các chứng bệnh gì?

Các y gia qua nhiều đời đã sử dụng rộng rãi Quy tỳ thang để trị các chứng tư lự quá độ, lao tổn tâm tỳ gây nên hồi hộp, hay quên, kinh sợ, đổ mồ hôi trộm, mệt mỏi, thích nằm, mất ngủ, ăn ít, đầu óc choáng váng, sắc mặt nhợt nhạt, hoặc tỳ hư không thể nhiếp huyết gây xuất huyết, kinh nguyệt không đều ở phụ nữ, băng lậu đới hạ, đau bụng, sốt nhẹ, cơ thể đau nhức, đại tiện không đều, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch nhỏ và yếu. Ngày nay, bài thuốc này thường được dùng để điều trị các bệnh về tim mạch, hệ thần kinh, huyết học và phụ khoa.

1. Bệnh tim mạch

Quy tỳ thang kết hợp với thuốc Tây trong điều trị bệnh tim mạch, đặc biệt có hiệu quả tốt đối với chứng rối loạn nhịp tim, suy tim, bệnh động mạch vành và cao huyết áp, đặc biệt hiệu quả với thể tâm tỳ lưỡng hư. Tuy nhiên, đối với các triệu chứng xuất huyết do đàm nhiệt, Quy tỳ thang không thích hợp.

Phùng (2021) và cộng sự đã phân tích hệ thống về hiệu quả của Quy tỳ thang kết hợp với metoprolol trong điều trị rối loạn nhịp tim từ năm 2012 đến 2018, kết quả cho thấy kết hợp đông và tây y có hiệu quả tốt hơn so với chỉ sử dụng thuốc Tây (p < 0.05), nhưng tỷ lệ phản ứng phụ không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê.

Quy tỳ thang kết hợp thuốc Tây điều trị suy tim thể khí hư huyết ứ có thể tăng cường khả năng co bóp cơ tim, cải thiện chức năng tim, và cải thiện mức BNP (B-type Natriuretic Peptide) và hs-CRP (hypersensitive C-Reactive Protein). Hiệu quả điều trị kết hợp cao hơn rõ rệt so với nhóm đối chứng (p < 0.05).

Quy tỳ thang kết hợp thuốc Tây điều trị cao huyết áp, sau điều trị, huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt so với nhóm đối chứng (p < 0.05), hiệu quả cải thiện huyết áp và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao huyết áp.

2. Các bệnh về hệ thần kinh

Mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư

Mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư (thường gặp các triệu chứng như chán ăn, mệt mỏi, tim đập nhanh, hay quên và hay mơ, dễ tỉnh giấc) có thể do rối loạn cảm xúc, ăn uống không điều độ, lao động không hợp lý và cơ thể suy yếu. Khi tỳ vị bị tổn thương, khí huyết không đủ, dẫn đến tâm huyết hư, không thể nuôi dưỡng tâm tỳ, gây ra tình trạng mất ngủ. Do đó, Quy tỳ thang có tác dụng dưỡng tâm an thần, điều trị hiệu quả chứng mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư.

Các nghiên cứu dược lý hiện đại phát hiện rằng Quy tỳ thang có tác dụng an thần, giúp giảm lo lắng thần kinh và tăng cường hệ miễn dịch, hỗ trợ bệnh nhân nhanh chóng đi vào giấc ngủ hiệu quả. Khi sử dụng Quy tỳ thang gia giảm để điều trị mất ngủ do tâm tỳ lưỡng hư, chỉ số đánh giá chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) của bệnh nhân và tỷ lệ tác dụng phụ thấp hơn so với nhóm điều trị bằng thuốc Tây. Thời gian ngủ tổng thể được kéo dài đáng kể, tỷ lệ vào giấc trong vòng một giờ đạt 80-90%, tổng hiệu quả điều trị đạt 90% (p < 0.05). Bài thuốc này cũng có thể cải thiện tình trạng mất ngủ và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh Parkinson. Hoạt chất chính của Quy tỳ thang là adenosine, và các gen mục tiêu chính là NR3C1, MAPK3, PPARA, tác động thông qua các con đường chuyển hóa và tín hiệu cAMP để điều trị thiếu ngủ.

Trầm cảm

Đối với bệnh nhân trầm cảm, việc sử dụng kết hợp thuốc chống trầm cảm và Quy tỳ thang giúp cải thiện tình trạng bệnh.

Nhóm điều trị kết hợp với Quy tỳ thang và nhóm điều trị bằng thuốc Tây đều có sự giảm điểm đáng kể trên thang đo trầm cảm Hamilton (HAM-D), thang đo trầm cảm tự đánh giá (SDS) và PSQI so với trước điều trị (p < 0.05), và nhóm điều trị kết hợp có điểm số thấp hơn đáng kể so với nhóm chỉ dùng thuốc Tây (p < 0.05). Hiệu quả điều trị của nhóm kết hợp (97.14%) cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ dùng thuốc Tây (77.78%) (p < 0.05), và tỷ lệ tác dụng phụ cũng thấp hơn đáng kể (p < 0.05). Quy tỳ thang giúp cải thiện tình trạng trầm cảm và nâng cao chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân.

Wei (2023) và cộng sự đã phân tích các thành phần hoạt tính, mục tiêu và cơ chế tác động của sự kết hợp Toan táo nhân – Phục linh – Long nhãn trong Quy tỳ thang, phát hiện các hợp chất chủ chốt như (S)-norzanthoxylin, coumestrol, n-trans-feruloyltyramine, ellagic acid, harmine và tartaric acid có vai trò quan trọng trong việc điều trị trầm cảm. Những hợp chất này giúp giảm phản ứng viêm, ức chế các cytokine gây viêm và giảm quá trình chết tế bào, nhờ đó điều chỉnh tình trạng trầm cảm. Chúng giúp giảm sự biểu hiện của các yếu tố gây viêm như TNF-α, MAPK và CTNNB1, giảm phản ứng viêm và đóng vai trò quan trọng trong điều trị trầm cảm. Các con đường liên quan đến trầm cảm bao gồm tương tác ligand-receptor, con đường tín hiệu canxi, cAMP và các con đường liên quan đến các bệnh thoái hóa thần kinh khác.

Liu (2023) và cộng sự đã phát hiện Quy tỳ thang có thể điều chỉnh các gen như EGF, PPARG, IL-10 và CRP, giúp điều trị trầm cảm kết hợp với các bệnh đường tiêu hóa.

Thoái hóa thần kinh não

Khi sử dụng Gia vị Quy tỳ thang để điều trị suy giảm nhận thức nhẹ (MCI), điểm đánh giá trung bình trên thang lâm sàng đánh giá sa sút trí tuệ (CDR-SB) của nhóm điều trị đã cải thiện rõ rệt từ 1.53 xuống còn 1.13 (p = 0.01), trong khi nhóm dùng giả dược giảm từ 1.61 xuống còn 1.75, sự khác biệt về điểm số lâm sàng giữa hai nhóm có ý nghĩa đáng kể (p = 0.045), chứng tỏ Gia vị Quy tỳ thang an toàn và hiệu quả trong điều trị suy giảm nhận thức nhẹ.

Ở bệnh nhân Alzheimer được điều trị bằng chất ức chế acetylcholinesterase, kết hợp với Quy tỳ thang, các điểm số trên thang đo MMSE-J và RBANS-J đều được cải thiện, cho thấy Quy tỳ thang có thể cải thiện chức năng nhận thức của bệnh nhân Alzheimer.

Phùng (2022) và cộng sự đã nghiên cứu hiệu quả của Quy tỳ thang trên chuột bị thoái hóa thần kinh do tiểu đường, kết quả cho thấy bằng cách điều chỉnh con đường tín hiệu NF-κB/PI3K, giảm sản xuất IL-6 và tăng biểu hiện của IKKα và PI3K (p < 0.05), Quy tỳ thang giúp giảm viêm và cải thiện tình trạng bệnh.

Các bệnh về hệ thống máu

Hứa (2021) quan sát bệnh nhân cường giáp kèm theo giảm bạch cầu, Trần (2021) và các cộng sự nghiên cứu giảm bạch cầu do thuốc chống lao gây ra, cả hai nhóm đều sử dụng thuốc Tây kết hợp với Quy tỳ thang. Kết quả cho thấy, số lượng tế bào bạch cầu, số lượng bạch cầu trung tính và hiệu quả điều trị ở nhóm kết hợp đông và tây y cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ điều trị bằng thuốc Tây (p < 0.05).

Diệp (2023) và các cộng sự nghiên cứu tác dụng của Quy tỳ thang trong điều trị bệnh ban xuất huyết dị ứng ở trẻ em, các thành phần hoạt tính chính như betulin, 1-Tetradecanol và adenosine triphosphate có khả năng điều chỉnh chức năng miễn dịch, trong khi stigmasterol và β-ionone điều chỉnh phản ứng viêm thông qua con đường tín hiệu PI3K/AKT. Các mục tiêu chính bao gồm TGF-β1 và TNF, sự mất cân bằng của hai yếu tố này là yếu tố chính gây bệnh, các mục tiêu khác bao gồm IL-6, IL-17A và FOXP3.

Lee (2015) và các cộng sự nghiên cứu tác dụng phòng ngừa hình thành mạch máu bệnh lý võng mạc của Quy tỳ thang, trên mô hình chuột bị bệnh lý võng mạc do oxy hóa (OIR), điều trị bằng Quy tỳ thang làm giảm đáng kể sự biểu hiện của các yếu tố VEGF, FGF2 và PAI-1 mRNA, từ đó giảm hình thành mạch máu bệnh lý ở võng mạc chuột.

Các bệnh phụ khoa

Các bệnh phụ khoa có liên quan mật thiết đến công năng khí huyết ở phụ nữ. Quy tỳ thang được ứng dụng điều trị các bệnh phụ khoa như rối loạn chu kỳ kinh nguyệt do tâm tỳ lưỡng hư, kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu, mất ngủ tiền mãn kinh, thiếu sữa sau sinh, với hiệu quả lâm sàng tốt.

Sử dụng Quy tỳ thang gia giảm kết hợp liệu pháp âm nhạc Ngũ hành để điều trị mất ngủ tiền mãn kinh cho kết quả hiệu quả đạt 89.66%, cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ dùng Quy tỳ thang hoặc liệu pháp âm nhạc đơn thuần (p < 0.05), điểm số PSQI và MRS của nhóm điều trị kết hợp cũng thấp hơn rõ rệt so với hai nhóm còn lại (p < 0.05).

Do phụ nữ lớn tuổi khí huyết dần suy yếu, đối mặt với áp lực công việc và gia đình làm tổn thương tỳ, khiến tỳ vị hư yếu, dẫn đến khí huyết không đủ, gây táo bón. Dương (2019) áp dụng khái niệm “phòng bệnh trước khi bệnh xảy ra” trong “Nội kinh” để điều trị táo bón ở phụ nữ tiền mãn kinh bằng Quy tỳ thang, giúp điều hòa khí huyết và cải thiện tình trạng táo bón của bệnh nhân.

Các bệnh khác

Trương (2022) và các cộng sự nghiên cứu việc kết hợp đông và tây y để điều trị lupus ban đỏ hệ thống (SLE) dạng nhẹ, áp dụng các bài thuốc đông y khác nhau cho ba chứng bệnh phổ biến của đông y, trong đó, đối với bệnh nhân thể khí huyết hư, sử dụng kết hợp Quy tỳ thang gia giảm và thuốc Tây. So với trước điều trị, lượng glucocorticoid sử dụng của bệnh nhân (p < 0.01) và mức kháng thể dsDNA (p < 0.05) giảm đáng kể, trong khi mức bổ thể C3 và C4 tăng đáng kể (p < 0.01). Tuy nhiên, hiệu quả điều trị sau cùng giữa nhóm điều trị kết hợp và nhóm chỉ điều trị bằng thuốc Tây không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Tóm lại, qua các nghiên cứu ứng dụng lâm sàng hiện đại, đối với các bệnh nhân có các chứng khí huyết lưỡng hư, khí huyết hư suy, khí hư huyết ứ theo đông y, việc sử dụng Quy tỳ thang kết hợp với điều trị bằng y học hiện đại cho hiệu quả tốt hơn. Tuy nhiên, ngoại trừ chứng mất ngủ, các bệnh khác thường kết hợp điều trị bằng thuốc Tây, ít có nghiên cứu độc lập về việc chỉ dùng Quy tỳ thang để kiểm chứng hiệu quả điều trị của nó, do đó cần thêm các nghiên cứu và chứng minh trong tương lai.

Nguồn: Viện nghiên cứu trung y dược quốc gia – Bộ vệ sinh phúc lợi Đài Loan

https://www.nricm.edu.tw/p/406-1000-7224,r11.php?Lang=zh-tw

BS Uông Mai dịch

Bài viết Những nghiên cứu mới về bài thuốc Quy tỳ thang đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/nhung-nghien-cuu-moi-ve-bai-thuoc-quy-ty-thang/feed/ 0
Thiếu ngủ là bệnh gì? https://vanquocduocvuong.vn/thieu-ngu-la-benh-gi/ https://vanquocduocvuong.vn/thieu-ngu-la-benh-gi/#respond Wed, 29 Nov 2023 17:47:34 +0000 http://vanquocduocvuong.vn/2023/11/30/thieu-ngu-la-benh-gi/ Thiếu ngủ xảy ra khi một người không thể ngủ đủ. Thời gian ngủ cần thiết để cảm thấy sảng khoái và hoạt động tốt tùy thuộc vào từng cá nhân và thay đổi theo từng độ tuổi. Ngủ đủ giấc mỗi đêm rất quan trọng. Một số chuyên gia cũng tin rằng giấc ngủ [...]

Bài viết Thiếu ngủ là bệnh gì? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
Thiếu ngủ xảy ra khi một người không thể ngủ đủ. Thời gian ngủ cần thiết để cảm thấy sảng khoái và hoạt động tốt tùy thuộc vào từng cá nhân và thay đổi theo từng độ tuổi. Ngủ đủ giấc mỗi đêm rất quan trọng. Một số chuyên gia cũng tin rằng giấc ngủ tạo cơ hội cho cơ thể chúng ta phục hồi, do đó, việc thiếu ngủ có thể tác hại đến sức khỏe.

Thiếu ngủ thường gặp đến mức nào?

Thiếu ngủ rất thường gặp. 35% người trưởng thành ở Mỹ cho biết rằng họ ngủ ít hơn 7 giờ mỗi ngày. 73% học sinh trung học Hoa Kỳ nói rằng họ ngủ ít hơn 8 giờ vào các đêm ngày đi học, trong khi 58% học sinh trung học Hoa Kỳ cho biết họ ngủ ít hơn 9 giờ. Cơ quan Giấc ngủ Quốc gia khuyến cáo thời gian ngủ cho các nhóm tuổi khác nhau như sau:

Tuổi

Thời gian ngủ được khuyến cáo

Em bé mới sinh (kể cả ngủ ngắn)

14 đến 17 tiếng

Trẻ sơ sinh (kể cả ngủ ngắn)

14 đến 15 tiếng

Trẻ em (kể cả ngủ ngắn)

11 đến 14 tiếng

Trẻ trước khi đến trường (kể cả ngủ ngắn)

10 đến 12 tiếng

Tuổi đến trường

9 đến 11 tiếng

Tuổi vị thành niên

8 đến 10 tiếng

Người lớn

7 đến 9 tiếng

Người già

7 đến 8 tiếng

Điều gì gây thiếu ngủ?

Không ngủ đủ giấc là nguyên nhân thường gặp nhất của thiếu ngủ. Những nguyên nhân khác gồm có:

  • Thói quen ngủ không tốt
  • Rối loạn nhịp sinh học (ví dụ: hội chứng giai đoạn ngủ trì hoãn, hội chứng lệch múi giờ khi du hành, làm ca đêm)
  • Rối loạn giấc ngủ như mất ngủ (insomnia), hội chứng chân không yên (restless leg syndrome) và ngưng thở lúc ngủ (sleep apnea)
  • Sử dụng các loại thuốc hoặc ma túy

Nguyên nhân gây thiếu ngủ ở trẻ em và vị thành viên cũng có thể gồm có:

  • Bắt đầu dậy thì
  • VA và amiđan phì đại, có thể gây tắc nghẽn đường thở khi ngủ
  • Ngủ trễ do thay đổi sinh lý
  • Rối loạn như là tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder – ADHD) hoặc rối loạn phổ tự kỷ (autism spectrum disorder).

Dấu hiệu và triệu chứng thường gặp của sự thiếu ngủ này là gì?

  • Buồn ngủ vào ban ngày, đặc biệt là các sinh hoạt im lặng như xem TV hoặc đọc sách báo
  • Thay đổi tâm trạng (cáu gắt, chán nản)
  • Hay quên và khó học các khái niệm mới
  • Không thể tập trung vào một công việc
  • Tăng cân

Việc gì xảy ra đối với cơ thể và hoạt động hàng ngày nếu thiếu ngủ?

Các tác hại thường gặp của thiếu ngủ gồm có quá buồn ngủ vào ban ngày, tai nạn do thiếu chú ý, thay đổi tâm trạng và thay đổi khẩu vị. Giảm thời gian ngủ dù chỉ 1 giờ có thể ảnh hưởng đến quá trình suy nghĩ và thời gian phản ứng (reaction time) của bạn vào ngày hôm sau. Thiếu ngủ có thể dẫn đến mệt mỏi mãn tính, có thể ảnh hưởng xấu đến công việc, học tập.

Thiếu ngủ cũng đi kèm với một số bệnh gồm tiểu đường, bệnh tim, đột quỵ, tăng huyết áp, bệnh thận và rối loạn tâm trạng.

  • Tiểu đường: Người ta biết rằng những người ngủ ít hơn vào ban đêm có khả năng xử lý đường huyết kém so với những người ngủ đủ giấc và tăng nguy cơ phát sinh bệnh tiểu đường loại 2.
  • Bệnh tim và đột quỵ: Thiếu ngủ dẫn đến tăng huyết áp, sưng phù và các phản ứng stress của cơ thể. Người lớn ngủ ít hơn 6 giờ mỗi đêm có nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn 48% và nguy cơ đột quỵ cao hơn 15%.
  • Suy nghĩ: Não bộ của người thiếu ngủ cần hoạt động nhiều hơn để hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể so với não bộ ngủ đủ giấc. Tai nạn lao động và tai nạn giao thông có thể là hậu quả của sự thiếu tập trung do thiếu ngủ.
  • Tâm trạng: Thay đổi tâm trạng thường gặp ở những người thiếu ngủ. Những người không ngủ đủ có thể có tâm trạng chán nản, ít năng động và cáu kỉnh.
  • Phát triển: Thiếu ngủ làm giảm hormone tăng trưởng, có thể tác hại, nhất là ở trẻ em, như giảm tăng trưởng chiều cao và giảm tăng cân.
  • Thay đổi cân nặng: Các hormone kiểm soát khẩu vị và phân hủy glucose có thể bị thay đổi do thiếu ngủ. Ngủ quá ít hoặc ngủ quá nhiều đi kèm với tăng cân bất thường.
  • Đau: Ngủ ngon vào ban đêm có thể làm giảm điểm số đau (pain scores – cách người ta đánh giá một cơn đau của chính mình) và giảm nhu cầu dùng thuốc giảm đau.

Thiếu ngủ được chẩn đoán như thế nào ?

Nếu bạn nghĩ rằng bạn bị thiếu ngủ, điều quan trọng là nói chuyện với nhân viên y tế. Ghi lại nhật ký giấc ngủ trong một vài tuần. Ghi chú khi nào bạn lên giường và ra khỏi giường mỗi ngày, khi nào bạn ngủ (bao gồm cả những giấc ngủ ngắn), và bao nhiêu cà phê, rượu hoặc bao nhiêu điếu thuốc trong suốt cả ngày. Điều này cho phép bạn nhìn vào kiểu hình giấc ngủ của bạn và xem điều gì ảnh hưởng hoặc hạn chế giấc ngủ của bạn. Ngoài ra, hãy ghi lại bất kỳ loại thuốc không kê toa, thảo dược hoặc chất bổ sung. Nếu bạn không yên tâm về cách ngủ của mình, một chuyên gia y tế về giấc ngủ có thể giúp bạn đánh giá thói quen ngủ cho bạn. Họ có thể sử dụng một thiết bị y tế gọi là hoạt động ký (actigraph). Thiết bị này có thể đeo ở cổ tay của bạn và sẽ đo sự di chuyển của cơ thể và mức tiếp xúc với ánh sáng.

Điều trị thiếu ngủ như thế nào?

Điều trị chủ yếu của thiếu ngủ là tăng tổng thời gian ngủ. Những gì bạn có thể làm để cải thiện thời gian ngủ tùy thuộc vào những gì ảnh hưởng đến giấc ngủ của bạn. Bạn phải xem giấc ngủ là một ưu tiên. Hãy thay đổi lịch sinh hoạt hàng ngày của bạn để ngủ được nhiều hơn. Trao đổi thông tin với nhân viên y tế hoặc chuyên gia về giấc ngủ của bạn nếu bạn không ngủ được hoặc ngủ không ngon. Bạn cũng nên đến khám đánh giá rối loạn giấc ngủ và các thói quen ngủ không tốt, vốn có thể làm giảm tổng thời gian ngủ.

Lời khuyên chuyên gia

  • Hãy xem giấc ngủ là ưu tiên mỗi ngày. Ngủ đủ 7-9 giờ mỗi ngày hoặc ngủ đủ để cảm thấy sảng khoái khi thức dậy.
  • Có thói quen ngủ tốt.
  • Nói chuyện với nhân viên y tế nếu bạn nghĩ rằng mình có một vấn đề về giấc ngủ và đang không ngủ đủ.
  • Không bao giờ lái xe hoặc vận hành máy móc hạng nặng nếu bạn buồn ngủ

Tác giả: Anuja Bandyopadhyay, MD; Ninotchka Liban Sigua, MD

Người phản biện: Helena Schotland, MD; Iris A. Perez, MD, Marianna Sockrider MD, DrPH, Vidya Krishnan, MD

Người dịch: Lê Thị Tuyết Lan – Trần Thanh Lộc

Nguồn Hội hô hấp TP HCM

Bài viết Thiếu ngủ là bệnh gì? đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Vạn Quốc Dược Vương.

]]>
https://vanquocduocvuong.vn/thieu-ngu-la-benh-gi/feed/ 0